MÔ H̀NH VẬN TỐC SÓNG DỌC P
THẠCH QUYỂN
VÀ MANTI ĐÔNG
CAO
Đ̀NH TRIỀU1, T. SVETKOVA2, BÙI ANH NAM1,
NGUYỄN ĐỨC VINH3, THÁI ANH TUẤN1
1Viện Vật lư Địa cầu, Viện
KH&CN Việt Nam, 18 Hoàng Quốc Việt, Cầu Giấy,
Hà Nội
2Viện Vật lư
Địa cầu, Viện HLKH Ukraina, Kiev; 3ĐH
Khoa học Tự nhiên, ĐH
Quốc gia Hà Nội.
Tóm tắt: Trong khuôn khổ bài báo này, các
tác giả đă sử dụng phương pháp giải bài toán ngược vận tốc
truyền sóng P trên cơ sở xấp xỉ
1. Vận tốc sóng P trung b́nh
của đỉnh manti là 7,8 - 8,1 km/s. VP = 8,0 - 8,1
km/s trùng với khu vực có vỏ đại dương:
Trung tâm Biển Đông Việt Nam, biển Philippines và Ấn
Độ Dương. VP của quyển dẻo là
8,1 - 8,4 km/s và đạt giá trị
8,0 - 8,1 km/s tại Trung tâm Biển
Đông Việt Nam, biển Philippines và Ấn Độ
Dương. VP thấp (8,1 - 8,2 km/s) trùng với cấu
trúc Tây Bắc Bộ Việt Nam, bắc Sulawesi và đảo
Cocost.
2. VP phần dưới manti trên nằm trong giới
hạn 8,4 - 8,7 km/s; vận tốc thấp (8,40 - 8,60 km/s)
trùng với cấu trúc có vỏ đại dương; các
cấu trúc có vỏ lục địa như Trường
Sơn, Khorat, Kon Tum, Đà Lạt cũng có giá trị mật
độ thấp, nhỏ hơn 8,60 km/s. Lớp chuyển
tiếp có vận tốc sóng P = 9,40 - 9,70 km/s; phần trên
cùng của manti dưới là 10,60 - 10,90 km/s; quyển kiến
tạo có giá trị vận tốc tăng dần đều
theo chiều sâu và ít biến động theo chiều nằm
ngang; và từ độ sâu trên 1800 km đến trên 2500 km vận
tốc sóng P biến đổi khá phức tạp cả
theo phương thẳng đứng lẫn phương nằm
ngang.
I. MỞ
ĐẦU
Hướng
phân tích cắt lớp sóng địa chấn (seismic
tomography) trên cơ sở tài liệu động đất
đă được các nhà địa chấn đề cập
tới từ những năm đầu thập niên 90 của
thế kỷ XX. Kết quả nghiên cứu theo định
hướng này đă cho thấy ư nghĩa khoa học lớn
của nó trong nghiên cứu kiến tạo và địa
động lực mang tính toàn cầu. Phương pháp này
đă làm sáng tỏ nhiều quan điểm về kiến
tạo mảng, như chứng minh được sự tồn
tại của các đới hút ch́m, đới va chạm,
đới tách giăn, v.v., phát hiện đặc trưng vận
động của manti và dần dần lư giải một
cách phù hợp hơn quá tŕnh địa động lực
của thạch quyển cũng như vỏ Trái đất.
Nhằm
mục đích t́m hiểu đặc trưng cắt lớp
sóng dọc địa chấn P ở thạch quyển và
manti khu vực Đông Nam Á, các tác giả đă tiến hành:
- Thiết
lập và giải bài toán mô h́nh cắt lớp sóng dọc
địa chấn trên cơ sở số liệu quan trắc
động đất có được;
- Xây dựng
mô h́nh vận tốc truyền sóng dọc P tại các độ
sâu khác nhau của thạch quyển và manti Trái đất,
đến độ sâu 850 km;
- Xây dựng
mặt cắt vận tốc truyền sóng dọc P và bất
đồng nhất nằm ngang vận tốc truyền
sóng dọc theo một số tuyến, tới độ sâu
trên 2.500 km.
Tài liệu được sử dụng là các
băng sóng động đất mạnh của ISC thời
kỳ 1966-1990. Phương pháp phân tích do GS. Geiko V.S. thiết
lập trên cơ sở xấp xỉ
Khu vực nghiên cứu được giới hạn
trong khung tọa độ: từ -100 đến 250
độ vĩ B; từ 900 đến 1300
độ kinh Đ.
II.
PHÂN TÍCH VÀ GIẢI BÀI TOÁN NGƯỢC TRUYỀN SÓNG ĐỊA
CHẤN
1.
Đặc điểm chung của số liệu băng
sóng động đất
Chúng
ta biết rằng các băng ghi sóng địa chấn
thường đánh dấu thời gian thực sóng địa
chấn đến trạm quan sát. Thời gian T của pha
sóng đến đầu tiên của P thường
được sử dụng để xác định chấn
tiêu động đất, có nghĩa là xác định tọa
độ và độ sâu của một trận động
đất (vĩ độ, kinh độ và độ sâu
) và thời gian thực T0 xảy ra
động đất mà các nhóm trạm ghi nhận
được. Quá tŕnh xác định tọa độ chấn
tiêu được tiến hành theo hai bước [3-6]:
-
Thứ nhất, là quá tŕnh biến đổi tuyến tính,
v́ chuẩn đường cong sóng tương ứng với
tia đối xứng xuyên tâm của Trái đất. Có nghĩa
là thỏa măn tiên đề:
(1)
trong đó D là chuẩn
của manti Trái đất,
là tọa độ
cực, n là môi trường thực, n0 là môi trường
biểu kiến tương ứng với chuẩn TTC và n1
là nhiễu phụ thuộc vào hàm điều chỉnh sau
đây:
![]()
(2)
Ở đây
và
là kinh độ và vĩ độ
tương ứng của trạm động đất,
t1 là nhiễu của thời gian đến t gây bởi
hàm n1 và
là sai số đo đạc ngẫu nhiên.
-
Thứ hai, thành phần
được
hiểu như là sai số tổng cộng của phân bố
Gauss. Như vậy, sai số xác định thông số
đối với
mỗi trận động đất phụ thuộc vào
các yếu tố sau: a) Tính quy luật của các tham số;
b) Sai số của giá trị ban đầu T; c) Số trạm
quan sát; d) Khoảng cách của các trạm tới chấn
tâm; và một số sai số không đáng kể khác.
2. Biến
đổi số liệu ban đầu về chuẩn
điểm sâu chung
Phương
pháp điểm sâu chung CMP (Central middle point) đă được
nhiều nhà địa vật lư chứng minh là có hiệu
quả cao trong phân tích bài toán ngược truyền sóng. Vấn
đề biến đổi số liệu ban đầu
về chuẩn điểm sâu chung được tiến
hành như một bước riêng biệt trong phân tích số
liệu.
Đối
với nguồn trên bề mặt, cơ sở của
phương pháp biến đổi hàm
trực tiếp
về hàm
là phương
pháp được Geyko phát triển [3-6]. Ở đây,
là tọa độ của tia trung b́nh trên bề
mặt đất và
là góc
phương vị của ṿng lớn nhất chứa tia sóng.
Giá trị của hàm được xác định như
sau:
(3)
trong
đó,
là chuẩn của
TTC đối với nguồn mặt biểu thị một
đơn vị của trường truyền sóng 3-D trong
chuẩn điểm sâu chung CMP.
Theo
kinh nghiệm phân tích sóng địa chấn nghiên cứu bất
đồng nhất môi trường thạch quyển và
manti th́ thông thường khi chọn số liệu động
đất cần đáp ứng các yêu cầu sau đây
[3-6]: a) Động đất có độ sâu chấn tiêu
nhỏ hơn 50 km; b) Chấn cấp (magnitude) động
đất lớn hơn 4,5 độ Richter; c) Số trạm
quan sát được động đất lớn hơn
200; d) Sai số tối đa xác định tọa độ
cầu và khoảng cách chấn tâm (
) tương ứng không vượt quá 0,25 và
0,50.
Phương
pháp nhằm biểu diễn trường sóng điểm
sâu chung được tiến hành như sau: phụ thuộc
vào tính đầy đủ của số liệu mà ta lựa
chọn độ lớn của miền chuẩn (domain)
hay c̣n gọi là cửa sổ, thông thường là 0,50×0,50
đến 5×50.
1.
Một bảng số liệu được thiết lập,
trong đó mỗi hàng chứa các thông số
và trọng số.
Trọng số sẽ mô tả chất lượng của
số liệu.
2.
Số liệu được xếp theo khoảng cách chấn
tâm
.
3.
Phân tích, so sánh, đánh giá và trung b́nh hóa số liệu.
4.
Loại trừ các số liệu đầu vào có sai số
lớn.
5.
Tài liệu quan sát TTC của CMP
được
thiết lập.
3. Giải
bài toán ngược và biểu diễn kết quả
Quá tŕnh
phân tích cắt lớp sóng dọc địa chấn P
được giải theo tŕnh tự các bước sau
[5]:
1. Lựa
chọn các trận động đất có đủ tiêu
chuẩn để phân tích;
2. Biên dịch
toàn bộ pha sóng đến đầu tiên;
3.
Biến đổi toàn bộ số liệu ban đầu
về chuẩn điểm sâu chung CMP;
4. Đảo
nghịch số đường cong truyền sóng bằng
cách sử dụng thuật toán cân bằng (ổn định)
trên cơ sở phương pháp hàm tương tự;
5. Thiết
lập mô h́nh giá trị vận tốc không đổi, môi
trường 3-D ban đầu;
6. Lập
mô h́nh cuối cùng lưới không đổi 3-D bằng
cách sử dụng mô h́nh xấp xỉ và thuật toán làm
trơn;
7. Biểu
diễn (visualization) kết quả dưới dạng tập
mặt cắt nằm ngang và thẳng đứng vận tốc
theo mô h́nh 3-D;
8. Biểu
diễn một số đặc tính tích phân vận tốc.
Kết
quả cuối cùng của mô h́nh 3-D sóng P (hoặc S) lớp
manti trên và manti dưới thông thường được
biểu diễn như sau:
- Tập
hợp các mặt cắt nằm ngang mô h́nh vận tốc
sóng địa chấn từ độ sâu 50 km đến
độ sâu tối đa có thể nghiên cứu với
bước 25 km;
- Tập
hợp các mặt cắt dị thường vận tốc
truyền sóng địa chấn từ độ sâu 50 km
đến độ sâu tối đa có thể nghiên cứu
với bước 25 km;
- Tập
hợp các mặt cắt thẳng đứng (theo kinh độ
và vĩ độ) mô h́nh giá trị vận tốc dọc
theo các tuyến cách nhau từ 0,5 đến 1-20;
- Tập
hợp các mặt cắt thẳng đứng (theo kinh độ
và vĩ độ) mô h́nh giá trị dị thường vận
tốc dọc theo các tuyến cách nhau từ 0,5 đến
1-20;
- Tập
hợp các bản đồ biểu diễn giá trị vận
tốc trung b́nh tới các độ sâu tương ứng
với 8 lớp cơ bản của phần trên manti,
đó là: phần trên cùng của manti (uppermost mantle) (50-100
km); đỉnh của manti (top of mantle) (50-250 km); phần
trên quyển kiến tạo (upper tectonosphere) (50-400 km); quyển
kiến tạo (tectonosphere) (50-650 km); quyển dẻo
(asthenosphere) (100-250 km); phần dưới của manti trên
(lower part of the upper mantle) (250-400 km); quyển kiến tạo
dưới hay c̣n gọi là đới chuyển tiếp giữa
manti trên và manti dưới (lower tectonosphere or the transition zone
between the upper and lower mantle) (400-650 km); và phần trên cùng của
manti dưới (uppermost lower mantle) (650-850 km).
Nhằm
tính toán giá trị vận tốc trung b́nh tương ứng
với các độ sâu chính, chúng tôi sử dụng công thức
[1, 2]:
(4)
trong đó:
,
là độ sâu tới ranh giới phía dưới
của các khối thuộc manti (km) và:
(5)
trong đó: h*
{100, 250, 400, 650}; H*
{250, 400, 650, 850},
h* và H* là
độ sâu tới mặt trên và mặt dưới của
các khối tương ứng thuộc manti (km).
Công thức
(5) biểu diễn sự phân bố vận tốc trung b́nh
truyền sóng theo diện (theo chiều nằm ngang); nó mô tả
tính phân khối (phân mảng cấu trúc) của manti theo chiều
nằm ngang. Mô h́nh này phù hợp với những ǵ chúng ta hiểu
biết về manti và lư thuyết kiến tạo mảng.
Mô h́nh tổng
thể vận tốc - độ sâu: vmin(z) - vận
tốc nhỏ nhất, vmax(z) - vận tốc lớn
nhất, và vaver(z) - vận tốc trung b́nh
được thiết lập trên cơ sở các công thức
sau đây:
(6)
trong đó:
là diện tích của
khối tại độ sâu
;
là diện tích bề
mặt trong hệ tọa độ
và
.
Mô h́nh
này cũng tương tự mô h́nh Jeffris-Bullen và PREM
(Dziewonski and Anderson, 1981) với độ lệch rất nhỏ,
sử dụng hàm [5]:
(7)
ở đây:
;
và
là chỉ số
vận tốc theo Jeffris-Bullen.
Như vậy,
phương pháp phân tích cắt lớp sóng địa chấn
như đă mô tả trên đây cho phép xây dựng mô h́nh vận
tốc của thạch quyển và manti một cách đầy
đủ và có độ tin cậy cao.
III.
MÔ H̀NH VẬN TỐC TRUYỀN SÓNG DỌC P CỦA THẠCH
QUYỂN VÀ MANTI KHU VỰC ĐÔNG
Mô h́nh vận
tốc truyền sóng dọc P của thạch quyển và
manti Đông Nam Á được tính toán trên cơ sở:
- Công thức
(6) đă tŕnh bày ở phần trên;
- Số
liệu được sử dụng là các băng địa
chấn ghi nhận được thời gian đến của
sóng dọc P của tất cả các trận động
đất mạnh từ năm 1966 đến 1990 (số
liệu của ISC) của các trạm động đất
khu vực châu Á - Thái B́nh Dương;
-
Phương pháp cắt lớp địa chấn
được Geyko (1997, 1998) xây dựng trên cơ sở giải
bài toán địa chấn ngược bằng cách xấp xỉ
phương tŕnh eikonal (
Việc
thiết lập mặt cắt vận tốc được
thực hiện theo quy tŕnh sau:
- Vận
tốc truyền sóng được tính toán bắt đầu
từ độ sâu 50 km, lần lượt sau đó là các
độ sâu từ 75, 100, ... (cách nhau 25 km) ... đến
850 km;

H́nh 1. Mô h́nh vận tốc truyền
sóng dọc P tại độ sâu 100 km
(Các điểm là chấn tâm
động đất)

H́nh 2. Mô h́nh vận tốc truyền
sóng dọc P tại độ sâu 500 km
(Các điểm là chấn tâm
động đất).

H́nh 3. Bất đồng nhất vận
tốc truyền sóng dọc P dọc theo kinh tuyến 114
(Các điểm là chấn tâm
động đất).

H́nh 4. Bất đồng nhất vận
tốc truyền sóng dọc P dọc theo Vĩ tuyến 20
(Các điểm là chấn tâm
động đất).
- Xây dựng mặt cắt vận tốc
truyền sóng dọc P theo độ sâu tới trên 2500 km.
Tương tự, các mặt cắt dị thường vận
tốc truyền sóng dọc cho tới độ sâu trên 2500
km cũng được thiết lập dọc theo kinh
độ và vĩ độ, cách nhau 1 độ. Một số
mặt cắt về vận tốc và dị thường
vận tốc theo phương cắt chéo cũng được
thiết lập;
- Khái niệm
về đới chuyển tiếp được hiểu
là vùng có giá trị gradien thẳng đứng vận tốc
truyền sóng cao. Tại vùng này có P đạt cỡ 9,50
đến 10,50 km/s. Ở Việt Nam và khu vực Đông
Nam Á, đới này có độ sâu từ 450-470 đến
650 km.
Tổng
cộng đă thiết lập được:
- 33
sơ đồ phân bố vận tốc truyền sóng P
theo diện tại các mức độ sâu: từ 50, 75,
100, ... (cách nhau 25 km)..., đến 850 km.
- 41 mặt
cắt dọc theo vĩ độ, từ vĩ độ
-15 đến vĩ độ 25, dị thường vận
tốc truyền sóng dọc P đến độ sâu trên 2500
km;
- 46 mặt
cắt dọc theo kinh độ, từ kinh độ 90
đến kinh độ 135, dị thường vận tốc
truyền sóng dọc P đến độ sâu trên 2500 km;
- 4 mặt
cắt dị thường vận tốc truyền sóng dọc
P đến độ sâu trên 2500 km theo phương cắt
chéo.
Một
số ví dụ về kết quả phân tích sóng động
đất nghiên cứu mô h́nh cấu trúc vận tốc sóng
dọc P của thạch quyển và manti Đông Nam Á
được tŕnh bày ví dụ trong các h́nh từ 1 đến
4.
IV. PHÂN TÍCH KẾT QUẢ
Các kết
quả nghiên cứu đạt được trong bài báo
này cho thấy:
1. Vận
tốc truyền sóng P trung b́nh của lớp dưới vỏ
Trái đất ở độ sâu 50 km biến động
trong giới hạn 7,40 - 8,10 km/s. Vận tốc sóng P cao
(7,80 - 8,10 km/s) trùng với khu vực có vỏ đại
dương như trung tâm Biển Đông Việt Nam, biển
Philippines và Ấn Độ Dương. Đới ranh giới
mảng được phản ánh trên tài liệu vận tốc
sóng P như đới có giá trị vận tốc thấp.
Giá trị vận tốc thấp (P = 7,40 - 7,70 km/s) trùng với
cấu trúc Trường Sa và
2. Vận
tốc truyền sóng P trung b́nh của đỉnh manti ở
độ sâu 100 km biến động trong giới hạn
7,80 - 8,10 km/s. Vận tốc sóng P cao (8,00 - 8,10 km/s) trùng với
khu vực có vỏ đại dương như trung tâm Biển
Đông Việt Nam, biển Philippines và Ấn Độ
Dương. Đới ranh giới mảng được
phản ánh trên tài liệu vận tốc sóng P như đới
có giá trị vận tốc thấp. Giá trị vận tốc
thấp (P = 7,80 - 7,90 km/s) trùng với cấu trúc Trường
Sa, bắc
3. Vận
tốc truyền sóng P trung b́nh của quyển dẻo (quyển
mềm) ở độ sâu 200 km biến động trong giới
hạn 8,10 - 8,40 km/s. Vận tốc sóng P cao (8,00 - 8,10 km/s)
trùng với khu vực có vỏ đại dương
như trung tâm Biển Đông Việt Nam, biển Philippines
và Ấn Độ Dương. Giá trị vận tốc thấp
(P = 8,10 - 8,20 km/s) trùng với cấu trúc Tây Bắc Bộ Việt
Nam, bắc Sulawesi và đảo Cocost (H́nh 3, 4) [2].
4. Vận
tốc truyền sóng P trung b́nh của phần dưới
manti trên ở độ sâu 300 km biến động trong giới
hạn 8,40 - 8,70 km/s. Giá trị vận tốc thấp (P =
8,40 - 8,60 km/s) trùng với cấu trúc có vỏ đại
dương như trung tâm Biển Đông Việt Nam, biển
Philippines và Ấn Độ Dương. Các cấu trúc có vỏ
lục địa như Trường Sơn, Khorat, Kon Tum,
Đà Lạt cũng có giá trị mật độ thấp,
nhỏ hơn 8,60 km/s (H́nh 3, 4) [2].
5. Vận
tốc truyền sóng P trung b́nh của lớp chuyển tiếp
ở độ sâu 500 km biến động trong giới hạn
9,40 - 9,70 km/s. Giá trị vận tốc thấp (P = 9,40 - 9,60
km/s) trùng với các cấu trúc thuộc trung tâm Biển
Đông Việt Nam, cấu trúc Tây Bắc Bộ, Trường
Sơn, Đà Lạt, Banda, đảo Mentavay và đảo
Christmas (H́nh 2-4).
6. Vận
tốc truyền sóng P trung b́nh của phần trên cùng của
manti dưới ở độ sâu 700 km biến động
trong giới hạn 10,60 - 10,90 km/s. Vận tốc sóng P của
lớp này có cấu trúc phức tạp, h́nh dạng chủ
yếu là cân xứng và có sự đan xen giữa các cấu
trúc âm và cấu trúc dương (H́nh 3, 4) [2].
7. Giá trị
vận tốc sóng P biến đổi rất phức tạp
trong phạm vi độ sâu từ 50 đến 650 km (quyển
kiến tạo). Từ độ sâu 650 đến độ
sâu 1700-1800 km (phần trên của manti dưới) có giá trị
vận tốc tăng dần đều theo chiều sâu và
ít biến động theo chiều nằm ngang. Từ độ
sâu trên 1800 đến trên 2500 km, vận tốc sóng P biến
đổi khá phức tạp cả theo phương thẳng
đứng lẫn phương nằm ngang (H́nh 3, 4).
VĂN
LIỆU
1. Cao Đ́nh Triều, Mai Xuân Bách, V.S. Geyko,
2004. Đặc trưng phân
đới cấu trúc thạch quyển Việt Nam theo tài
liệu địa vật lư. TC
Địa chất, A/285 : 177-187. Hà Nội.
2. Cao Đ́nh Triều (Chủ biên), 2008. Nghiên cứu dự báo động đất mạnh
khu vực Đông Nam Châu Á có nguy cơ gây sóng thần ảnh
hưởng đến bờ biển và hải đảo
Việt Nam. BC tổng kết
nhiệm vụ HTQT về KH&CN theo Nghị định
thư Việt Nam - Italia (2006-2008). Lưu trữ Viện VLĐC, 222 trg.
3.
Geyko V.S., 1993. Concrete conditions for the unidimensional
kinematic problem of seismics. Geofiz.
Zhurn., 15/3 : 27-50; 15/6 : 31-43
(in Russian).
4.
Geyko V.S., 1997. Inversion of seismic travel-time curve as a problem
of moment. Geophys. J., 7 : 39-58.
5.
Geyko V.S., 1998.
6. Geyko V.S., 2004. A general theory of the
seismic travel-time tomography. Geophys.
J., 26/1 : 3-32.