CÁC ĐỚI HÓA
THẠCH VÀ VIỆC ĐỐI SÁNH ĐỊA TẦNG
CÁC TRẦM TÍCH TRIAS TRUNG Ở ĐÔNG BẮC BỘ
1ĐẶNG TRẦN HUYÊN, 1NGUYỄN
ĐÌNH HỮU, 2KOMATSU T.
1Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà
Nội;
2Đại học Tổng hợp
Tóm tắt: Các trầm tích Trias
trung ở Đông Bắc Bộ chứa các đới hóa thạch Hai mảnh vỏ, Cúc đá và Trùng lỗ. Các đới Hai mảnh vỏ gồm Costatoria
praenapengensis - Langsonella elongata, Trigonodus tonkinensis - Costatoria
goldfussi; Cúc đá: Leiophyllites - Norites, Balatonites, Kellnerites
samneuaensis, Kellnerites - Acrochordiceras; Trùng lỗ: Meandrospira insolita,
Pilamnina densa. Các đới này là cơ sở để định tuổi của các trầm tích, cũng như
phân chia và đối sánh địa tầng Trias trung của khu vực này.
Trong thời Trias giữa ở đới An Châu, các
hoạt động tạo rift tuổi Anisi đã tạo nên hệ tầng Khôn Làng và trong thời Anisi
muộn - Lađin các hệ tầng Điềm He và Nà Khuất được thành tạo trong môi trường
lục nguyên, carbonat. Trong khi đó, các hệ tầng Yên Bình và Lân Páng với thành
phần gồm các đá lục nguyên và carbonat được thành tạo ở các đới Sông Lô và Sông
Hiến.
Về mặt sinh địa lý, hệ động vật Thân mềm
Trias hạ-trung ở Đông Bắc Bộ nói riêng, và Việt
Trong các công bố trước
đây, chúng tôi đã mô tả các phân vị địa tầng Trias trung ở Đông Bắc Bộ, phân
tích môi trường và điều kiện trầm tích của chúng [5,
7, 9]. Bài báo này là phần tiếp tục việc xác lập các đới cổ sinh trong
các hệ tầng này, xác định quá trình trầm tích của chúng và dựa trên các tài liệu
này xác định tỉnh cổ sinh - địa lý của các hệ động vật Trias giữa ở Đông Bắc
Bộ.
Các trầm tích Trias trung ở
Đông Bắc Bộ gồm các hệ tầng Yên Bình, Lân Páng ở các đới Sông Hiến và Sông Lô;
các hệ tầng Khôn Làng, Điềm He và Nà Khuất ở đới An Châu. Các di tích hóa thạch
trong các hệ tầng này khá phong phú và đa dạng, gồm Hai mảnh vỏ, Cúc đá và
Trùng lỗ. Trong thời gian gần đây, các khảo sát của các tác giả đã thu thập
thêm các di tích hóa thạch mới trong các hệ tầng trên. Kết hợp với các tài liệu
có trước, các di tích hóa thạch này được phân chia thành các đới phức hệ làm cơ
sở cho việc định tuổi, phân chia và đối sánh các trầm tích Trias trung ở Đông
Bắc Bộ.
I.
CÁC SINH ĐỚI TRIAS GIỮA Ở ĐÔNG BẮC BỘ
Sự phân bố của các đới hóa
thạch Trias giữa được trình bày trong các Bảng 1 và 2.
1. Các đới Hai mảnh vỏ
a.
Đới phức hệ
Costatoria praenapengensis - Langsonella elongata
Phân bố trong các mặt cắt thuộc
phần cao nhất của các hệ tầng Khôn Làng, Điềm He và phần dưới hệ tầng Nà Khuất.
Thành phần hóa thạch chủ yếu gồm: Costatoria praenapengensis (Vukhuc), C.
proharpa (Frech), C. paucicostata (Vukhuc),
Plagiostoma subpunctata (Orb.), Pl. bourreti (Patte), P. langsonensis
Huyên sp. nov., Hoernesia chobaiensis Patte, Pteria cassiana
(Bittner), Neoschizodus laevigatus (Zieth.), Unionites khonvensis
(Patte), Langsonella elongata
(Mansuy), L. minuta Vukhuc,... Năm
1995, Vũ Khúc đã phân định phức hệ Hai mảnh vỏ Costatoria curvirostris -
Daonella elongata đặc trưng cho tuổi Anisi ở Việt Nam [13], mức tuổi cho phức hệ này kéo dài từ Anisi
sớm đến Anisi muộn, bởi vì phức hệ đi kèm với các Cúc đá Paracrochordiceras,
Balatonites, Kellnerites, v.v... Đới phức hệ đề nghị ở đây chỉ giới hạn
trong Anisi muộn ứng với đới phức hệ Kellnerites
samneuaensis đi kèm. Thêm vào đó, trong đới phức hệ Balatonites tuổi Anisi giữa phân bố ở phần dưới của hệ tầng Khôn
Làng chưa tìm thấy Hai mảnh vỏ.
b.
Đới phức hệ
Trigonodus tonkinensis Costatoria
goldfussi
Phân bố ở phần trên của hệ tầng
Nà Khuất trong rất nhiều mặt cắt thuộc đới An Châu. Thành phần chủ yếu gồm: Trigonodus
tonkinensis (Mansuy), T. trapezoidalis (Mansuy), T. zhamoidai
Vukhuc, Costatoria goldfussi (Alb.), C. inaequicostata (Klipst.),
C. goldfussi mansuyi (Hsue), C. radiata (Loczy), C.
ngeanensis (Vukhuc), Hoernesia angusta Mansuy, H. inflata Mansuy,
Schafhauetlia plana (Muenst.),... Đới phức hệ này nằm trực tiếp
trên đới phức hệ Costatoria
praenapengensis - Langsonella elongata tuổi Anisi muộn, được xác định bằng
sự xuất hiện của các loài chỉ thị của đới. Loài chỉ thị T. tonkinensis (Mansuy)
phân bố khá rộng trong các trầm tích Lađin ở Bắc Bộ, Bắc Trung Bộ (Việt Nam) và
còn gặp ở Nam Trung Quốc và Thái Lan, còn loài Costatoria goldfussi
(Alb.) phân bố trong Trias giữa ở Tây Âu, Nam Trung Quốc, Việt Nam và Đông Nam
Á.
2. Cúc đá
a. Đới phức hệ
Balatonites
Phân bố ở phần chân của hệ tầng
Khôn Làng. Thành phần hóa thạch gồm: Balatonites cf. balatonicus Mojs.
(mặt cắt sông Kỳ Cùng), Gymnites cf. incultus (Beyrich), Ceratites
aff. nodosus (Brug.) (mặt cắt vùng Chợ Bãi). Loài Balatonites balatonicus
Mojs. là loài chỉ thị của đới cùng tên của miền Tethys [1], đặc trưng cho các trầm tích Anisi trung. Ở Việt Nam, loài Balatonites
balatonicus còn được phát hiện trong phần giữa hệ tầng Đồng Trầu ở Bắc
Trung Bộ và trong hệ tầng Châu Thới ở Đông Nam Bộ. Đới phức hệ Balatonites
được xem là đới đặc trưng cho tuổi Anisi giữa [11].
b. Đới phức hệ
Kellnerites samneuaensis
Phân bố trong lớp cao nhất của
các hệ tầng Khôn Làng, Điềm He và phần dưới hệ tầng Nà Khuất. Thành phần hóa
thạch gồm: Kellnerites samneuaensis (Mansuy), Indolobites sp..
Loài chỉ thị của đới phức hệ phân bố trong các mặt cắt địa tầng trầm tích Anisi
thượng ở Đông Bắc Bộ và Thượng Lào [11].
c. Đới phức hệ Kellnerites
- Acrochordiceras
Đới này phân bố trong các lớp
đá lục nguyên thuộc phần trên của hệ tầng Yên Bình, gồm Kellnerites sp., Acrochordiceras cf. fischeri,
ngoài ra còn đi kèm Hai mảnh vỏ Neoschizodus sp.. Tuổi của phức hệ
được xác định là Anisi giữa.
d. Đới phức hệ Leiophyllites-Norites: Phân bố ở phần chân của hệ tầng Lân Páng ở mặt cắt
đèo Vĩnh Yên (Bắc Sơn). Thành phần gồm: Leiophyllites sp., Phyllocladiscites
hay Sturia sp., Norites sp., và Pleuromya cf.
musculoides Schloth.. Các hóa thạch trên có tuổi Anisi.
3. Trùng lỗ
a. Đới Pilammina
densa
Phân bố trong các lớp đá vôi
thuộc hệ tầng Điềm He. Thành phần hóa thạch gồm: Pilammina densa Pantic,
Diplotremina ex gr. astrofimbriata K. Tollm, Trochammina
jaunensis Bronn et Page, Glomospirella semiplana Koch, Endothyranella
sp.. Loài chỉ thị P. densa Pantic phân bố khá rộng rãi trong Anisi
thượng ở châu Âu, Afghanistan, Malaysia. Các loài dẫn ra trên đây hoàn toàn có
thể xếp vào đới P. densa, tuổi Anisi
muộn (Zaninetti L., 1976; Vachard D., Fontaine H., 1988).
b. Đới Meandrospira insolita
Phân bố trong các lớp đá vôi
của hệ tầng Lân Páng ở các vùng Lân Páng và Tân Lập (Lạng Sơn). Thành phần: Glomospira
sp., Glomospiranella sp., Ammodiscus cf. semicintractus
Wat., Earlandia mesozoica LeHung sp. nov., Nodosaria sp. (theo Lê Hùng, 1991) và tuổi các hóa thạch được
xác định là Anisi. Trong các lớp đá vôi ở Tân Lập đã phát hiện được các hoá
thạch Endoteba sp., Nodosiella sp., Endothyranella sp., Meandrospira
insolita. Loài Meandrospira insolita
là loài chỉ thị cho Anisi hạ-trung ở Nam Trung Quốc, Sovak west Carpat và
Balkan.
Bảng 1. Các đới hoá thạch Trias trung ở các đới
Sông Hiến và Sông Lô

Bảng 2. Các đới hoá thạch Trias trung ở đới An
Châu

II.
ĐỐI SÁNH CÁC TRẦM TÍCH TRIAS TRUNG Ở ĐÔNG BẮC BỘ VỚI CÁC KHU VỰC LÂN CẬN
1. Đối sánh các trầm tích Trias trung ở Đông Bắc Bộ với các khu vực
khác ở Việt Nam
Đối với các trầm tích Anisi
(Trias giữa) có thể đối sánh các đới và các lớp chứa hóa thạch kể trên theo hai
mức tuổi: Anisi giữa và Anisi muộn.
Đới Balatonites (Anisi giữa) ở phần chân hệ tầng Khôn Làng và hệ
lớp có tuổi tương đương Leiophyllites-Norites
ở phần chân của hệ tầng Lân Páng có thể đối sánh với hệ lớp chứa Balatonites trong phần giữa của hệ tầng
Đồng Trầu ở Bắc Trung Bộ, với hệ lớp chứa Cuccoceras
cuccense trong phần giữa của hệ tầng Đồng Giao ở Tây Bắc Bộ và với hệ lớp
chứa Balatonites trong phần trên của
hệ tầng Châu Thới [12, 13].
Đới Kellnerites samneuaensis (Anisi muộn) ở phần trên cùng của hệ tầng
Khôn Làng và phần dưới của hệ tầng Điềm He có thể đối sánh với hệ lớp Cúc đá
cùng tuổi Paraceratites trong phần
trên của các hệ tầng Đồng Giao và Đồng Trầu. Cũng ở mức địa tầng này có thể đối
sánh đới Costatoria praenapengensis -
Langsonella elongata ở đới An Châu với các hệ lớp chứa phong phú các loài
của giống Costatoria trong phần trên hệ tầng Đồng Trầu, bởi vì chúng cùng
chứa nhiều loài của giống Costatoria [12,
13].
Ngoài ra, trong Anisi muộn, có
thể đối sánh đới Pilammina densa
trong hệ tầng Điềm He với đới cùng tên trong hệ tầng Hoàng Mai ở Bắc Trung Bộ [8].
Đối với các trầm tích có tuổi
Lađin có thể dựa vào đới Trigonodus
tonkinensis - Costatoria goldfussi để so sánh với đới tương tự trong phần
dưới của hệ tầng Mường Trai ở Tây Bắc Bộ [Vũ
Khúc, in 9] và với hệ lớp chứa Trigonodus
tonkinensis - Costatoria goldfussi trong hệ tầng Quy Lăng ở Bắc Trung Bộ [Đặng Trần Huyên, in 9].
2. Đối sánh các trầm tích Trias trung ở Đông Bắc Bộ với các nước lân
cận
Dựa vào tài liệu cổ sinh, các
trầm tích Trias trung ở Đông Bắc Bộ có thể đối sánh trước hết với các khu vực
Quảng Tây và Đông Vân Nam (Nam Trung Quốc). Đây là khu vực kề liền với đới Sông
Hiến và đới An Châu. Tiếp đến sẽ đối sánh với các trầm tích Trias trung ở Bắc
Thái Lan là nơi mặt cắt Trias được nghiên cứu tốt và chứa khá phong phú các hóa
thạch.
Các trầm tích Trias trung ở
Quảng Tây và Đông Vân Nam được chia thành 3 hệ tầng:
- Hệ tầng Guohua gồm đá vôi, đá vôi
oolit và lớp tuf mỏng chứa Cúc đá Balatonites sp. và Chân bụng Allocosmia
sp.;
- Hệ tầng Baifeng gồm cát kết, bột kết
và bùn kết xen kẽ nhau, ở phần chân có
chứa tuf và cát kết tuf, chứa Cúc đá Balatonites
sp., Danubites cf. kansa, Paraceratites sp. và Hai mảnh vỏ Daonella
producta;
- Hệ tầng Hekou gồm bùn kết, bột
kết, cát kết, đá vôi và đá vụn núi lửa chứa Hai mảnh vỏ Daonella lommeli, D.
indica, Halobia kui, H. comata; Cúc đá Celtites sp., Protrachyceras
douvillei.
Như vậy, dựa vào
đới Balatonites ở Đông Bắc Bộ có thể
đối sánh với các lớp chứa hóa thạch tương tự trong các hệ tầng Guohua và
Baifeng. Đới phức hệ Trigonodus
tonkinensis - Costatoria goldfussi của khu vực nghiên cứu đặc trưng cho
tướng gần bờ, tương đương về tuổi với các lớp chứa Daonella và Halobia
trong hệ tầng Hekou, đặc trưng cho tướng xa bờ.
Các trầm tích
Trias hạ - Trias trung ở Bắc Thái Lan phân bố trong bể Lampang - Phrae [2], được chia thành 3 hệ tầng: Phra That, Doi
Chang, và Hong Hoi.
- Hệ
tầng Phra That gồm cát kết, bột kết, cuội kết, hãn hữu xen đá vôi, chứa đới
phức hệ Claraia-Ophiceras (Inđi) ở
chân và đới phức hệ Costatoria nằm trên (Trias trung).
- Hệ tầng Doi
Chang gồm đá vôi, đá phiến sét, cát kết chứa phức hệ Hollandites-Balatonites
(Anisi).
- Hệ tầng Hong
Hoi gồm đá phiến sét, bột kết, cát kết xen ít đá vôi chứa sét, chứa các đới
phức hệ Claraia-Ophiceras (Inđi) ở
phần dưới cùng mặt cắt, đới phức hệ Daonella
indica (Lađin) và đới Paratrachyceras
(Carni sớm).
Như vậy, đới phức hệ Balatonites ở Đông Bắc Bộ có thể đối
sánh với đới phức hệ Hollandites-Balatonites
trong hệ tầng Doi Chang.
Đới phức hệ
Trigonodus tonkinensis - Costatoria goldfussi ở Đông Bắc Bộ tương đương về
tuổi với đới phức hệ Daonella indica
trong hệ tầng Hong Hoi.
III.
QUÁ TRÌNH TRẦM TÍCH TRIAS TRUNG Ở ĐÔNG BẮC BỘ
Sau gián đoạn
trầm tích liên quan tới chuyển động nâng của khu vực vào cuối Trias sớm - đầu
Trias giữa, bắt đầu vào khoảng Anisi giữa, một giai đoạn trầm tích mới của khu
vực lại bắt đầu.
Lịch sử phát
triển của bể Sông Hiến về cơ bản đã kết thúc vào cuối Trias sớm. Trong Trias
giữa, hầu hết diện tích của bể Sông Hiến đã trở thành miền nâng và chỉ còn tồn
tại eo biển hẹp phân bố ở rìa nam và một phần phía bắc của bể này. Trong Anisi,
ở phần phía bắc của đới Sông Hiến (vùng Phó Bảng) và với diện tích nhỏ trên đới
Sông Lô kế cận (vùng Yên Bình) đã trầm đọng các trầm tích lục nguyên vụn thô và
các lớp lục nguyên mịn hơn chứa hoá thạch Anisi biển được xếp vào hệ tầng Yên
Bình (T2a yb) [5]. Như vậy, đã tồn tại một trũng hẹp biển phân
bố trên phần bắc của đới Sông Hiến và một phần đới Sông Lô trong thời Anisi.
Còn ở phần phía nam đới Sông Hiến, kết quả
của quá trình trầm tích tại đây đã tạo nên hệ tầng Lân Páng (T2a
lp) gồm chủ yếu các đá vụn thô, ít vật liệu tuf chuyển lên các lớp đá
vôi và sét vôi chứa hiếm hoi hóa thạch Cúc đá trôi nổi và Trùng lỗ tướng biển
nông. Hệ tầng này nằm không chỉnh hợp rõ rệt trên hệ tầng Sông Hiến (T1 sh).
Eo biển tạo nên chỉ tồn tại trong kỳ Anisi.
Lịch sử phát
triển địa chất của bể An Châu trong Trias giữa có thể chia thành hai giai đoạn
nhỏ hơn.
Giai đoạn đầu của
Trias giữa (Anisi giữa-muộn): Bắt đầu quá trình biển tiến mới trên toàn bộ bể
An Châu. Diện tích của bể mở rộng hơn so với giai đoạn Trias sớm ở phía đông
bắc. Trong bể An Châu, giai đoạn này là thời kỳ hoạt động phun trào rất mạnh
mẽ, cả ở rìa bắc, đông bắc, cũng như rìa đông và đông nam của bể. Có thể nhận thấy hai kiểu mặt cắt Anisi trong bể An
Châu.
Kiểu mặt cắt Khôn Làng phân bố ở rìa bắc và đông bắc
bể, đặc trưng bởi tướng lục nguyên - phun trào trầm đọng trong chế độ biển điển
hình, kết quả tạo thành hệ tầng Khôn Làng. Hệ tầng này chứa khá phong phú hóa
thạch biển như các Cúc đá sống trôi nổi và các Hai mảnh vỏ đặc trưng cho môi trường
biển nông.
Kiểu mặt cắt Bình Liêu phân bố ở rìa nam và đông nam
của bể An Châu, đặc trưng bởi tướng lục nguyên - phun trào trầm đọng trong chế
độ lục nguyên - ven bờ. Hệ tầng Khôn Làng ở đây chứa các hóa thạch Chân lá Euestheria
đặc trưng cho môi trường nước ngọt và nước lợ.
Kết thúc giai đoạn phun trào mạnh mẽ xảy ra trong
Anisi giữa-muộn, toàn bồn trũng chuyển sang chế độ trầm tích biển tương đối ổn
định. Bắt đầu quá trình trầm tích mới vào cuối Anisi, về phía tây và và tây bắc
của trũng An Châu, là nơi trầm đọng tầng đá vôi màu đen phân lớp mỏng đến trung
bình tạo nên hệ tầng Điềm He (T2a đh) chứa các hoá thạch Trùng lỗ và Hai mảnh vỏ tướng biển nông, còn
về phía đông nam trũng An Châu, nơi diễn ra quá trình trầm đọng các đá lục
nguyên của hệ tầng Nà Khuất chứa phong phú các hoá thạch Hai mảnh vỏ tướng thềm
biển nông [7]. Sang tới kỳ Lađin hầu như
trên toàn vùng trũng chỉ lắng đọng các lớp lục nguyên của hệ tầng Nà Khuất và
cũng chứa rất phong phú và đa dạng các hóa thạch Hai mảnh vỏ thuộc tướng thềm
biển nông [7].
Vào cuối Lađin, chế độ biển của bể An Châu dần dần
rút khỏi toàn khu vực, một giai đoạn phát triển mới của bể á lục địa đã bắt đầu
bằng quá trình trầm tích tạo nên hệ tầng Mẫu Sơn (T3c ms) đặc
trưng bởi các lớp lục nguyên vũng vịnh, ven bờ chứa các hóa thạch Chân lá và
Hai mảnh vỏ nước lợ-ngọt.
IV.
VỀ SINH ĐỊA LÝ TRIAS SỚM-GIỮA KHU VỰC ĐÔNG BẮC BỘ
Theo quan niệm hiện nay, có thể chia Trái đất trong
thời Trias sớm-giữa thành ba miền sinh địa lý: miền Tethys, miền Gondwana, và
miền Boreal (Bắc) [15].
Miền Gondwana không có các hệ động vật nhiệt đới và cận nhiệt đới. Miền này đặc trưng
bởi các Cúc đá sống ở các vĩ độ trung bình đến cao (Otoceras,
Swalbardiceras, Gurleyites, v.v...), các Hai mảnh vỏ kém đa dạng và hệ thực
vật ôn hòa (Dicroidium).
Miền Boreal đặc trưng bởi các hệ động vật và thực vật từ ôn đới đến lạnh. Tuy vậy, hệ
động vật ở rìa nam của miền chứa hỗn hợp các yếu tố của Boreal và Tethys. Hệ
thực vật thống trị Danaeopsis-Bernoullia ở phía nam và hệ thực vật
Siberi ở phía bắc.
Miền Tethys được đặc trưng bởi sự thống trị của các hệ động vật và thực vật nhiệt
đới, trong đó có nhiều giống Cúc đá đặc trưng cho vùng nhiệt đới điển hình: Tirolites,
Dinarites, Paraceratites, Prohungarites, Xenoceltites. Các Hai mảnh vỏ của
miền Tethys rất đa dạng về cấp phân loại. Còn hệ thực vật nhiệt đới bị thống
trị bởi Voltzia-Pleuromeia và Dictyophyllum-Clathropteris. Các
phân tích đồng vị oxy vỏ Cúc đá ở miền Tethys cho biết nhiệt độ trung bình của
nước biển là 23-27°C [16].
Miền sinh địa lý Tethys được chia thành hai tỉnh:
tỉnh Đông (Oriental prov.) và tỉnh Tây (Occidental prov.) [6], và có khi còn được gọi là khu vực
Tethys-Cathaysia hay Tethys Địa Trung Hải [15].
Hai tỉnh Đông và Tây của Tethys cùng chứa nhiều giống và loài Hai mảnh vỏ như
nhau.
Các giống Hai mảnh vỏ đặc trưng cho Tethys (hay
Âu-Á) có: Hoferia, Protopia, Pleuronectites, Enteropleura, Arcavicula,
Mysidiella, Heminajas, Myophoricardium, Leptochondria, Myophoriopsis,
Enantiostreon, Hoernesia, Dicerocardium, Cornucardia, v.v...
Các phức hệ hóa thạch Hai mảnh vỏ Trias sớm-giữa ở
Việt Nam, Nam Trung Quốc và Malaysia chứa rất nhiều yếu tố của hệ động vật vùng
Anpi, châu Âu. Các đới Claraia wangi, Cl.
stachei, Cl. aurita cũng đã thấy
ở Việt
Từ những điều nêu trên, ta thấy hệ động vật ở Đông
Tethys và Tây Tethys có mối quan hệ rất mật thiết, dường như có sự lưu thông
tương đối thuận lợi giữa Đông và Tây Tethys.
Tuy vậy, người ta vẫn phân biệt được sự khác biệt
của hai tỉnh này trong Trias sớm và giữa.
1. Trong Trias sớm, dựa vào sự có mặt của Claraia
và Claraia đi cùng Eumorphotis, người ta đã phân biệt ra hai tỉnh
phía đông và tây của Tethys [6, 15].
Hệ động vật Claraia-Eumorphotis ở Đông Bắc Bộ
rất đặc trưng cho các trầm tích tuổi Inđi, gặp được trong cùng đới phức hệ Claraia wangi và Cl. stachei, Cl. aurita. Hệ động vật Claraia-Eumorphotis ở
Nam Trung Quốc và Bắc Việt
Trong Trias giữa, người ta đã dựa vào sự phát triển
cực thịnh của Myophoria (s. str.) và Costatoria để phân biệt hai
tỉnh kể trên của Tethys [6]. Các hóa
thạch Myophoria (s. str.) hầu như vắng mặt hoàn toàn trong các trầm tích
Trias ở Nam Trung Quốc, Việt
Ngoài sự phân biệt kể trên, còn có thể thấy các
giống Leproconcha, Storthodon là các giống Hai mảnh vỏ đặc hữu ở
Châu Âu [6], còn các giống Quadratia,
Veteranella, Prostrea và Langsonella là đặc hữu đối với Đông Nam Á
nói riêng và Đông Tethys nói chung.
Qua các dẫn liệu trên, ta thấy rõ mối quan hệ mật
thiết và rất gần gũi của các hệ động vật Claraia-Eumorphotis trong Trias
sớm và hệ động vật Costatoria trong Trias giữa của Nam Trung Quốc và Bắc
Việt Nam; chúng thuộc tỉnh Đông Tethys của miền sinh địa lý Tethys.
Những nghiên cứu về Cúc đá [11] cho thấy trong kỷ Trias bể tích tụ trầm tích ở Đông Bắc Bộ
thuộc loại biển mở, nối thông với những biển và đại dương chính của Trái đất.
Trong số các giống và loài đặc trưng, các đại biểu thuộc miền sinh địa lý
Tethys chiếm ưu thế chứng tỏ các bể tích tụ trầm tích ở Việt
Lời cảm ơn. Bài báo được các tác giả hoàn thành trong quá trình
thực hiện đề tài "Các hóa thạch Thân mềm (Mollusca) và địa tầng Trias
trung ở Đông Bắc Bộ, Việt
VĂN LIỆU
1.
Baud A., 1997. Tableau stratigraphique du Trias. Bull. Bur.
Rech. Géol. et Min. 2e sér., 4/3. Paris.
2.
Chonglakmani C., Grant - Mackie J. A., 1993. Biostratigraphy and facies
variation of the marine Triassic sequences in
3. Đặng Trần Huyên, Nguyễn Kinh
Quốc, 2000. Các
tài liệu về địa tầng và cổ sinh các trầm tích Trias hạ đới tướng - cấu trúc
Sông Hiến. Địa chất và khoáng sản. 7 : 9-24.
4. Đặng Trần Huyên, Nguyễn Đình
Hữu, 2005. Các đới
hoá thạch và việc đối sánh địa tầng các trầm tích Trias hạ ở Đông Bắc Bộ. TC Địa chất, A/291 : 1-9. Hà Nội.
5. Đặng Trần Huyên, Nguyễn Đình
Hữu, 2007. Tài liệu về địa tầng và cổ sinh của các trầm tích
Trias trung ở các đới tướng cấu trúc Sông Hiến và Sông Lô. Địa chất, 302 : 64-69. Hà Nội.
6. Kobayashi T., Tamura M., 1984. The Triassic Bivalvia
of Malaysia,
7. Komatsu T., Dang Tran Huyen, Nguyen Dình Huu, 2007. Middle
Triassic infaunal bivalve assemblage in storm dominated shelf, An Chau basin,
North Vietnam. Paleont. Res., Pal. Soc.
Japan (in press).
8.
Nguyễn Văn Liêm, 1966. Some Triassic Foraminiferas from
Hoang Mai limestone, Nghe An Province, North Viet Nam. Acta Sci. Vietn.,
Sect. Biol. Geogr., I : 37-44. Hà Nội.
9.
Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Đồng chủ biên), 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia, 526
tr.. Hà Nội.
10. Vũ
Khúc, Trịnh Thọ 1975. Những tài liệu cổ sinh và địa tầng
Trias thu thập trong 10 năm gần đây và ý nghĩa của chúng. Tt các công trình
nghiên cứu về địa tầng, tr. 185-243. Nxb KHKT, Hà Nội.
11. Vũ
Khúc, 1984. Cúc đá Trias Việt Nam. Tổng cục ĐC, Hà Nội, 136
tr.
12. Vũ
Khúc, Bùi Phú Mỹ, 1989. Địa chất Việt
13. Vu Khuc, 1995. Ammonoid zonation of Triassic and
Jurassic in
14. Vu Khuc, Dang Tran Huyen 1998. Triassic correlation of the SE
Asian mainland. J. PPP, 143 :
285-291.
15. Yin H., 1990. Triassic paleobiogeography of
16. Zakharov Yu., 1978. Verkhnetriasovye ammonoidei
Vostoka SSSR. Izd. Nauka. Moskva, 224 tr.