SỬ DỤNG PHẦN MỀM SURPAC VISION
5.1 TRONG TÍNH TRỮ LƯỢNG, TÀI NGUYÊN KHOÁNG SẢN RẮN VÀ ÁP DỤNG CHO TÍNH TOÁN
TRỮ LƯỢNG QUẶNG SA KHOÁNG TITAN KHU MỸ THÀNH 1, PHÙ MỸ (BÌNH ĐỊNH)
1NGUYỄN MAI QUÂN, 1LÊ VĂN
LƯỢNG, 2ĐỖ NGỌC TRUNG
1Văn phòng Hội đồng Đánh giá
trữ lượng khoáng sản, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội
2Công ty Gemcomsoftware, A11 Nghĩa Tân, Cầu Giấy, Hà Nội
Tóm tắt: Ứng dụng công nghệ thông tin là một nội dung quan
trọng trong Chương trình cải cách hành chính của Chính phủ nói chung và của
từng cơ quan nhà nước nói riêng. Văn phòng Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng
sản được Bộ Tài nguyên và Môi trường quan tâm và tạo điều kiện cho phép sử dụng
bản quyền phần mềm Surpac Vision trong công tác kiểm tra, đánh giá trữ lượng
khoáng sản. Sau thời gian nghiên cứu áp dụng thử nghiệm ở một số mỏ khoáng sản
rắn, Văn phòng Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản đánh giá phần mềm này có
nhiều ưu điểm như mô hình hoá thân quặng sát với điều kiện thực tế của mỏ, tính
toán nhanh và chính xác. Bài báo này giới thiệu một số khái niệm cơ bản sử dụng
trong phần mềm và thí dụ tính trữ lượng khoáng sản một mỏ cụ thể để minh họa
cách sử dụng phần mềm này.
Phần
mềm Surpac Vision do Công ty Surpac Minex Group của
Văn phòng Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản đã
khai thác và bước đầu áp dụng thành công phần mềm Surpac Vision trong kiểm tra,
đánh giá trữ lượng khoáng sản rắn trong một số báo cáo thăm dò khoáng sản trình
duyệt tại Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản. Dưới đây sẽ trình bày việc áp
dụng phần mềm Surpac Vision để tính toán trữ lượng quặng sa khoáng titan khu Mỹ
Thành 1, huyện Phù Mỹ (Bình Định) đã được Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản
phê duyệt trữ lượng.
I. MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN TRONG PHẦN MỀM SURPAC VISION [2]
“String” là thuật ngữ dùng để chỉ đối tượng hình học
cơ bản trong Surpac Vision. String có thể là một hoặc nhiều điểm (point), đoạn
thẳng (line) hay đường (polyline).
“Segment” tương tự như string, nhưng segment chỉ có
thể là 1 điểm, 1 đoạn thẳng hay 1 đường. Segment luôn thuộc về một string nào
đó.
“String file” là file dữ liệu của Surpac Vision lưu
trữ dữ liệu của string. String file có phần mở rộng là .str.
Mô hình số bề mặt địa hình DTM (Digital Terrain Modelling)
được tạo ra từ string. Tên của DTM giống như tên của string file, nhưng khác
phần mở rộng là .dtm.
“Solid Model” là mô hình khối hình học khép kín. Solid
Model có thể được tạo ra từ các string hoặc từ các DTM. Solid Model còn được
gọi là 3DM. Tên của 3DM file giống như tên của DTM file.
“Block Model”
là mô hình khối vi phân. Block Model dùng để mô hình hoá thân quặng bằng cách
chia thân quặng thành các vi khối block hoặc các phụ vi khối subblock hình lập
phương. Mỗi block có toạ độ, kích thước và được gán các thông số như hàm lượng
các thành phần có ích và có hại, chiều dày chứa quặng bằng nội suy từ cơ sở dữ
liệu kết quả phân tích mẫu.
Cơ sở dữ liệu (database) trong Surpac Vision sử dụng
4 file dữ liệu cơ bản là Collar, Servey, Lithology và Sample. 4 file dữ liệu
này có chung môt trường dữ liệu là tên lỗ khoan hoặc tên công trình thăm dò.
Mỗi file có một số trường dữ liệu cơ bản cần thiết như sau:
File Collar.str bao gồm: 1) Tên lỗ khoan; 2) Toạ độ
miệng lỗ khoan X, Y, Z; 3) Loại lỗ khoan: thẳng (linear) hoặc cong (curved).
File Servey.str bao gồm: 1) Tên lỗ khoan; 2) Hành trình
khoan (To); 3) Góc lệch (Dip); 4) Phương vị lệch (Azimuth).
File Lithology.str bao gồm: 1) Tên lỗ khoan; 2) Chiều
sâu từ, đến (From, to); 3) Tên đá.
File Sample.str bao gồm: 1) Tên lỗ khoan; 2) Ký hiệu
mẫu; 3) Chiều sâu lấy mẫu từ đến (From, to); 4) Kết quả phân tích thành phần
hoá cơ bản.
Ngoài ra, các file dữ liệu
nêu trên có thể được bổ sung các trường dữ liệu phục vụ tính trữ lượng khoáng
sản, như tuyến thăm dò, khoảng chiều sâu gặp quặng, …
II. TÍNH TRỮ LƯỢNG QUẶNG SA KHOÁNG TITAN VEN BIỂN KHU MỸ THÀNH 1 [1]
1. Sơ lược về quặng sa khoáng titan ven biển khu Mỹ Thành 1
Bình
Định là một trong những tỉnh có tiềm năng lớn về quặng sa khoáng titan ven biển
và nằm trong Quy hoạch tổng thể về thăm dò, khai thác, chế biến, sử dụng quặng titan
giai đoạn 2007-2015, định hướng đến năm 2025, đã được Thủ tướng Chính phủ phê
duyệt. Nhằm thu hút đầu tư để phát triển kinh tế của địa phương đẩy mạnh phát
triển các ngành công nghiệp của tỉnh, Bộ Tài nguyên và Môi trường đã cấp phép
thăm dò quặng sa khoáng titan khu Mỹ Thành 1 cho Công ty TNHH Phú Hiệp chuẩn bị
nguồn nguyên liệu cho chế biến sâu quặng sa khoáng titan.
a. Đặc điểm thân quặng sa khoáng titan
Khu
thăm dò gồm chủ yếu các thành tạo trầm tích Đệ tứ phân bố thành các dải cát chạy
song song với đường bờ biển. Theo tài liệu thu nhận được trong quá trình thăm
dò, đối chiếu với tài liệu đã nghiên cứu trước đây, có thể xếp các thành tạo
này thuộc Holocen trung-thượng, nguồn gốc hỗn hợp biển-gió (mvQ22-3).
Ngoài ra, ở gần trung tâm khu thăm dò còn có mặt thành tạo granitoiđ được các nhà
địa chất xếp vào phức hệ Đèo Cả (gd, gx, gK đc).
Các
thành tạo trầm tích hỗn hợp biển-gió chiếm diện tích chủ yếu, phân bố bao trùm gần
toàn bộ diện tích thăm dò, tạo thành các dải cát với chiều rộng từ 1,5 đến 1,8
km. Ranh giới trên chỉnh hợp với bề mặt địa hình, ranh giới dưới là không chỉnh
hợp trên các thành tạo cổ hơn, đôi khi gặp các trầm tích này phủ trực tiếp trên
bề mặt đá gốc cổ (QS.241, 242, ...). Dựa vào đặc điểm thạch học, màu sắc và vị
trí phân bố, có thể chia các thành tạo này ra làm 2 tập như sau:
-
Tập 1: phân bố ở phần dưới của mặt cắt, chỉ gặp trong các lỗ khoan sâu. Thành
phần chủ yếu là cát xám trắng, xám xanh, hạt nhỏ, lẫn sét, chứa rất ít khoáng
vật nặng màu đen. Tập cát này có thể phủ trực tiếp trên các thành tạo có thành
phần và tuổi khác nhau. Theo tài liệu thu nhận tại các lỗ khoan sâu (MTM.0319,
MTM.0330, MTM.0711, MTM.0733), tầng này phân bố trong khoảng độ sâu từ 14 đến
25 m. Chiều dày thay đổi từ 5 đến 10 m.
-
Tập 2: nằm trực tiếp trên tập 1, chủ yếu gồm cát vàng sẫm, vàng nâu, có nơi
màu vàng nhạt, xám trắng; trên mặt có màu xám vàng nhạt, chứa nhiều khoáng vật
quặng màu đen. Cát chủ yếu có thành phần thạch anh, hạt nhỏ đến vừa, lẫn sét,
bột, đôi khi cả mảnh đá, dăm, sạn. Các hạt quặng thường nhỏ, tròn. Đây là tập
chứa quặng titan sa khoáng và các khoáng vật có ích khác, và cũng là đối tượng
thăm dò. Bề dày của tập biến đổi từ 1 đến 16 m.
Các
kết quả thi công các công trình khoan tay, lấy và phân tích mẫu trọng sa xác định
hàm lượng ilmenit và các khoáng vật có ích đi kèm cho thấy thân quặng sa khoáng
titan nằm trong tập 2 có nguồn gốc biển-gió, tuổi Holocen muộn. Thân quặng sa
khoáng titan nằm ngang, lộ ngay trên bề mặt địa hình và trải rộng trên diện
tích khảo sát. Tầng cát chứa quặng chủ yếu là cát hạt nhỏ và hạt vừa, màu xám,
xám vàng đến vàng nhạt. Thân quặng có chiều dày thay đổi từ 1 đến 16 m, trung
bình 10,31 m. Bề dày thân quặng khá ổn định với hệ số biến đổi là 29,5 %. Theo
phương song song với bờ biển, bề dày thân quặng có xu hướng giảm từ TB xuống
ĐN. Theo phương vuông góc với bờ biển, bề dày thân quặng có xu hướng giảm dần từ
TN ra biển.
Kết
quả nghiên cứu cho thấy, thành phần các khoáng vật có ích trong quặng sa khoáng
tại khu Mỹ Thành 1 chủ yếu là ilmenit, ít hơn có zircon, rutil, leucoxen, anatas
và monazit. Nhìn chung, hàm lượng các khoáng vật quặng từ trung bình đến giàu,
với tổng hàm lượng khoáng vật quặng trong thân quặng công nghiệp dao động từ
5,22 đến 125,32 kg/m3, trung bình: 33,34 kg/m3, hệ số biến
thiên: 55,76 %.
Theo
mẫu đơn, hàm lượng tổng các khoáng vật quặng dao động từ 0,202 đến 549,44 kg/m3,
trung bình: 31,4 kg/m3, hệ số biến thiên: 107,04 %. Như vậy, ta thấy
sự biến đổi hàm lượng các khoáng vật quặng theo mẫu đơn rất không đồng đều, còn
trong thân quặng công nghiệp sự biến đổi khá đồng đều.
Kết
quả nghiên cứu cho thấy các khoáng vật quặng trong sa khoáng Mỹ Thành 1 có sự biến
đổi khá mạnh về hàm lượng, và sự biến đổi này có tính quy luật khá rõ. Nhìn
chung, hàm lượng các khoáng vật quặng có sự biến đổi mạnh theo chiều vuông góc
với đường bờ biển và theo chiều sâu. Kết quả thi công các công trình khoan tay,
lấy mẫu và phân tích mẫu trọng sa cho thấy theo chiều song song với đường bờ
biển, hàm lượng các khoáng vật quặng có xu hướng giảm dần từ phía TB xuống ĐN.
Còn theo chiều vuông góc với đường bờ biển thì hàm lượng các khoáng vật quặng
có xu hướng giảm dần từ TN ra biển.
Theo
chiều sâu, hàm lượng các khoáng vật quặng biến đổi không đều, thường gặp các mẫu
đạt giá trị hàm lượng biên ở trên mặt, xuống sâu hàm lượng tăng cao và sau đó
giảm dần. Các tài liệu thăm dò cho thấy, khoáng vật quặng đạt chỉ tiêu công nghiệp
tồn tại chủ yếu trong khoảng độ sâu từ 1 đến 16 m, xuống sâu hơn thường gặp
quặng nghèo.
b. Tính trữ lượng quặng sa khoáng titan khu Mỹ Thành 1 bằng phần mềm Surpac Vision
Việc tính trữ lượng quặng sa khoáng titan khu
Mỹ Thành 1 bằng phần mềm Surpac Vision có thể mô tả ngắn gọn theo sơ đồ trên
Hình 1.
Bản đồ địa hình khu vực thăm dò đã được đo vẽ và số
hóa ở tỷ lệ 1:2000. Trên cơ sở tài liệu đo vẽ địa hình, đã
xây dựng mô hình số địa hình cho toàn khu vực thăm dò. Địa hình này là cơ sở cần
thiết cho việc mô hình hoá và tính toán trữ lượng thân quặng (Hình 2).

Hình 1. Quy trình tính toán trữ lượng, tài
nguyên cho các khoáng sản
bằng phần mềm Surpac Vision

Hình 2. Địa hình vùng thăm dò quặng sa khoáng titan Mỹ Thành 1
Các lỗ khoan được bố trí như sau: trên diện tích khối trữ lượng
cấp 121, các lỗ khoan được bố trí theo mạng lưới 100×25 m, tuyến cách nhau 100
m, lỗ khoan trên tuyến cách nhau 25 m. Trên diện tích khối trữ lượng cấp 122,
các lỗ khoan được bố trí theo mạng lưới 200×50 m, tuyến cách nhau 200 m, lỗ
khoan trên tuyến cách nhau 50 m.
Các tuyến thăm dò bố trí vuông góc với tuyến trục (phương
vị tuyến trục là 150° gần song song
với đường bờ biển, phương vị tuyến ngang là 60°). Tổng số có 14 tuyến thăm dò.
Xây dựng 4 file dữ liệu cơ bản gồm Collar.csv, Servey.csv, Lithology.csv
và Sample.csv đối với 135 lỗ khoan. Sau đó tạo file cơ sở dữ liệu và hiển thị
trên màn
hình của Surpac Vision (Hình 3).

Hình 3. Vị trí phân bố các lỗ
khoan
Chiết xuất dữ liệu kết quả
phân tích mẫu vào file mau3.str để chuẩn bị cho việc nội suy hàm lượng các khoáng
vật quyết định chất lượng quặng sa khoáng titan và theo chỉ tiêu tính trữ lượng
như tổng khoáng vật quặng, ilmenit, rutil, anatas, leucoxen, zircon và monazit.
2. Xây dựng mô hình số bề mặt địa hình các bề mặt vách
và trụ thân quặng: Xây dựng mô hình số bề mặt địa hình (DTM) bề mặt địa hình bằng số liệu
đo chi tiết các điểm trắc địa (Hình 4). Do không có lớp phủ nên bề mặt địa hình
được xem là bề mặt vách thân quặng.

Hình 4. DTM bề mặt địa hình là mặt
vách thân quặng
Xây dựng DTM mặt trụ thân quặng theo số liệu về bề dày
thân quặng tại các lỗ khoan hoặc vị trí trụ thân quặng tại lỗ khoan đó. Sau đó
tạo solid các thân quặng này (Hình 5, 6).

Hình
5. DTM mặt trụ thân quặng

Hình
6. DTM chung toàn thân quặng
3. Xây dựng mô hình vi khối Block Model: Xây dựng mô hình vi khối
cho thân quặng sa khoáng titan Mỹ Thành 1. Xác định vị trí điểm gốc X, Y, Z và
khoảng mở rộng 3200 m theo trục Y và 3000 m theo trục X cho mô hình trong không
gian 3 chiều. Xác định khối vi phân có kích thước 10×10×1 m. Các khối này có
thể chia nhỏ gấp đôi thành các phụ vi khối subblock có kích thước 5×5×0,5 m. Bề
dày khối 1 m phù hợp với chỉ tiêu bề dày tối thiểu thân quặng tính trữ lượng
(Hình 8 và 9).

Hình
8. Hộp thoại định nghĩa mô hình
khối thân quặng

Hình
9. Mô hình các khối vi phân thân quặng
4. Nội suy hàm lượng các khoáng vật quặng cho từng khối: Đối
với các phương pháp nội suy, thì tùy thuộc vào từng loại khoáng sản mà người ta
sẽ lựa chọn phương pháp nội suy thích hợp. Đối với đá vôi, phương pháp nội suy
phổ biến được sử dụng là nghịch đảo khoảng cách mũ.
Đối với quặng sa khoáng titan Mỹ Thành 1 đã sử dụng
phương pháp kriging ordinary để nội suy hàm lượng các thành phần khoáng vật cơ
bản gồm ilmenit, rutil, anatas, leucoxen, zircon, tổng khoáng vật quặng và
monazit.
Đối với phương pháp nội suy kriging ordinary, để
nội suy hàm lượng các thành phần có ích thì các thông số quan trọng nhất ảnh hưởng
tới kết quả nội suy chính là các thông số về phạm vi tìm kiếm và các tham số
đầu vào tham gia vào quá trình nội suy.
Trong
Surpac Vision sử dụng ellipsoiđ tìm kiếm. Việc xác định các thông số của ellipsoiđ
tìm kiếm rất quan trọng. Các thông số này thường liên quan đến bán kính quét
theo trục X, Y, Z; góc quay tìm kiếm theo trục X, Y, Z; số mẫu tối thiểu và tối
đa trong bán kính quét theo trục X, Y, Z.
Sau
quá trình khảo sát variogram đã xác định được các thông số đối với quá trình nội
suy cho thân quặng như sau: 1) Trục dài là 460 m; 2) Trục ngắn là 125 m; 3) Trục
cao là 10 m; 4) Đường phương thân quặng: 150o; 5) Góc dốc thân quặng:
0o; 6) Số lượng mẫu tối thiểu: 3; 6) Số lượng mẫu tối đa: 8.
Sau
khi quá trình nội suy kết thúc, mỗi vi khối được gán các giá trị như kích thước
và thể tích mỗi khối hoặc phụ khối, tỷ lệ thể tích phụ vi khối so với thể tích vi
khối định nghĩa, hàm lượng các thành phần khoáng vật chứa quặng.
5. Tính trữ lượng quặng sa khoáng titan - zircon khu Mỹ Thành 1: Dựa vào chỉ tiêu tính trữ
lượng quặng sa khoáng titan-zircon khu thăm dò, khai báo các thông số tính trữ
lượng như trên Hình 10.
6. So sánh kết quả tính toán với kết quả đã tính trong báo cáo thăm dò quặng
sa khoáng titan-zircon Mỹ Thành 1: Trữ lượng tổng khoáng vật quặng tính theo phương
pháp khối địa chất trong báo cáo thăm dò quặng sa khoáng titan Mỹ Thành 1 là
880.000 tấn. Dùng phần mềm Surpac Vision 5.1 tính được là 860.000, chênh lệch
20.000 tấn. So sánh các giá trị tính được thấy rằng, sai số giữa hai phương
pháp tính xấp xỉ 2,3 %. Sai số tính toán này chấp nhận được. Kiểm tra bằng phần
mềm chấp nhận kết quả tính trong báo cáo thăm dò quặng sa khoáng titan-zircon
khu Mỹ thành 1, Phù Mỹ (Bình Định).
Sự
khác nhau về kết quả tính toán giữa phương pháp dùng phần mềm Surpac Vision và phương
pháp truyền thống là việc bình thường. Sự khác biệt về kết quả trữ lượng có thể
lớn hoặc nhỏ trong từng trường hợp cụ thể tùy thuộc nhiều yếu tố khách quan và
chủ quan, trong đó sự khác nhau rõ ràng nhất đó là nội suy hàm lượng các thành
phần trong thân quặng. Thông thường, hàm lượng các thành phần trong thân quặng
được tính theo trung bình cộng hoặc gia quyền với bề dày thân quặng của hàm
lượng thành phần đó trong khối trữ lượng. Như vậy, hàm lượng các thành phần
phân bố trong quặng thường đơn giản và có độ chính xác không cao. Phần mềm Surpac
Vision nội suy sự phân bố hàm lượng các thành phần trong quặng chính xác hơn.
Ngoài ra, sự phân bố hàm lượng các thành phần trong từng vi khối và phụ vi khối
của thân quặng có thể sử dụng để thiết kế khai thác.

Hình
10. Hộp thoại định nghĩa thông số tính trữ
lượng tổng khoáng vật quặng
III. KẾT LUẬN
Phần
mềm Surpac Vision hiện đang được nhiều Công ty thăm dò và khai thác khoáng sản trên
thế giới sử dụng có hiệu quả trong việc đánh giá trữ lượng khoáng sản cũng như
thiết kế khai thác mỏ. Một số ưu điểm nổi bật của phần mềm này trong nghiên cứu
đánh giá trữ lượng khoáng sản rắn như sau:
1.
Dễ dàng sử dụng và hỗ trợ hữu hiệu cho người sử dụng trong xây dựng và hiệu chỉnh
số liệu cơ sở dữ liệu (ký hiệu lỗ khoan, hào, giếng, lỗ khoan cong, địa hình,
số hiệu mẫu, kết quả phân tích mẫu);
2.
Phần mềm có công cụ mô hình hóa mạnh, các thuật toán sử dụng để nội suy hàm lượng
có độ chính xác cao;
3.
Tương thích hoàn toàn với cấu trúc dữ liệu của các phần mềm thông dụng như
AutoCad, MapInfor, MS.Office: Excel, Access, …;
4.
Cấu trúc dữ liệu đơn giản, thống nhất giữa các mođul, tạo sự thuận tiện trong tác
nghiệp giữa các bộ phận chức năng cũng như công tác quản lý dữ liệu.
Các
đơn vị thực hiện công tác thăm dò khoáng sản rắn, trường đại học, các cơ sở đào
tạo cán bộ cho lĩnh vực thăm dò khoáng sản nên và cần đưa việc áp dụng phần mềm
Surpac Vision vào chương trình giảng dạy để sinh viên và những người làm công tác
thăm dò nắm bắt và thực hành, sử dụng tốt phần mềm trong thực tế.
VĂN LIỆU
1. Công ty TNHH Phú Hiệp, 2008. Báo cáo Thăm dò quặng sa khoáng titan-zircon tại
khu vực Mỹ Thành 1 thuộc xã Mỹ Thành, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Lưu trữ
Công ty.
2. Surpac Minex Group, 2004. Hướng dẫn sử dụng phần mềm Surpac Vision.