BỘ MÔN TÌM KIẾM - THĂM DÒ, KHOA ĐỊA CHẤT, ĐẠI HỌC MỎ - ĐỊA CHẤT:
30 NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN
Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò (TK-TD) thuộc Khoa Địa
chất, Đại học Mỏ - Địa chất (M-ĐC), được thành lập trên cơ sở tách Nhóm Tìm kiếm
- Thăm dò của Bộ môn Khoáng sản, thuộc Khoa Địa chất - Thăm dò. Trải qua 30 năm
xây dựng và phát triển, Bộ môn đã có nhiều đóng góp vào sự nghiệp đào tạo cán bộ
địa chất thăm dò, địa chất mỏ cho đất nước và nước CHDCND Lào. Đồng thời, các
nhà khoa học trong Bộ môn đã tích cực tham gia các hoạt động nghiên cứu khoa học,
triển khai công nghệ trong các lĩnh vực điều tra cơ bản, tìm kiếm - thăm dò,
khai thác, sử dụng tài nguyên khoáng sản, kết hợp với bảo vệ môi trường, phục vụ
phát triển kinh tế - xã hội trên khắp mọi miền đất nước.
Khi thành lập, Bộ môn TK-TD
được xếp vào Khoa Địa chất, do GS.TS Đồng Văn Nhì làm chủ nhiệm. Trong những
ngày mới thành lập, Bộ môn có 11 cán bộ, trong đó mới có 2 Tiến sĩ (Phó tiến
sĩ), còn lại hầu hết là cán bộ giảng dạy trẻ mới ra trường. Đến nay tổng số cán
bộ đã làm việc tại Bộ môn là 30 người, gồm 27 cán bộ giảng dạy và 3 cán bộ thí
nghiệm, trong đó có 1 giáo sư, 3 phó giáo sư, 1 tiến sĩ khoa học, 12 tiến sĩ và
5 thạc sĩ. Hiện nay, số cán bộ của Bộ môn là 10 người, gồm 5 nhóm chuyên môn
là: Tìm kiếm và dự báo tài nguyên khoáng
sản; Địa chất thăm dò; Địa chất mỏ và môi trường; Toán địa chất (bao gồm cả Tin
ứng dụng và GIS) và Đánh giá kinh tế
Địa chất tài nguyên khoáng sản. Bộ môn có 3 phòng thí nghiệm: Phòng Thí
nghiệm trọng sa, Phòng Triển khai công nghệ thăm dò và Đánh giá tài nguyên
khoáng và Phòng Lưu trữ và Xử lý thông tin địa chất.
Trong những năm tháng mới
thành lập, từ 1978 đến 1982, với lực lượng cán bộ còn mỏng, hầu hết là cán bộ
trẻ, lại phải đảm đương nhiều công việc giảng dạy, hướng dẫn thực tập trong điều
kiện khó khăn và thiếu thốn, nhưng thầy trò Bộ môn luôn nêu cao tinh thần đoàn
kết, vượt qua khó khăn hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đào tạo và nghiên cứu khoa
học phục vụ sản xuất. Bộ môn luôn quan tâm công tác tự đào tạo để nâng cao chất
lượng đội ngũ cán bộ giảng dạy, xây dựng kế hoạch cử cán bộ đi bồi dưỡng và đào
tạo nghiên cứu sinh trong và ngoài nước. Đồng thời Bộ môn chú trọng biên soạn đề
cương môn học mới và bài giảng, giáo trình các môn học truyền thống, xây dựng địa
bàn thực tập sản xuất cho sinh viên Địa chất thăm dò, tăng cường quan hệ với
các đơn vị sản xuất địa chất thuộc Tổng cục Mỏ - Địa chất, Tổng cục Đường sắt
và các xí nghiệp khai thác mỏ từ Lạng Sơn đến Kiên Giang. Đến năm 1985, lực lượng
của Bộ môn đã khá mạnh. Ở Bộ môn đã hình thành 3 nhóm chuyên môn: Tìm kiếm, Thăm dò và Kinh tế địa chất.
Bộ môn đảm nhận giảng dạy các môn học: Phương pháp tìm kiếm mỏ, Phương pháp
thăm dò mỏ, Toán địa chất, Phương pháp tìm kiếm trọng sa, Phương pháp đánh giá
kinh tế địa chất cho sinh viên Địa chất thăm dò và nhiều ngành khác trong
trường.
Trong thời gian này, Bộ môn đã quản lý các lớp
sinh viên Địa chất thăm dò từ K.18 đến K.25 thuộc hệ chính quy và hệ chuyên tu.
Hàng trăm kỹ sư Địa chất thăm dò đã ra trường (trong đó có 5 sinh viên của nước
CHDCND Lào). Nhiều người trong số đó đã trở thành cán bộ nòng cốt, cán bộ cao cấp
ở nhiều cơ quan trên mọi miền của đất nước.
Năm học 1979-1980 được coi
là năm đánh dấu mốc quan trọng trong hoạt động nghiên cứu khoa học và triển
khai công nghệ trong lĩnh vực điều tra thăm dò địa chất của Bộ môn. Trong năm
này, Bộ môn triển khai hàng loạt công trình nghiên cứu khoa học phục vụ ngành
công nghiệp than, công nghiệp khai thác khoáng sản (đồng Sin Quyền, apatit Lào
Cai, chromit Cổ Định, Thanh Hóa, ...). Đặc biệt, trong chương trình xây dựng đường
sắt Thống nhất, Bộ môn đã phối hợp với Bộ môn Khai thác lộ thiên, Khai thác hầm
lò tham gia chương trình thăm dò và thiết kế khai thác các mỏ đá phục vụ công
việc khôi phục và nâng cấp các tuyến đường sắt Lào Cai - Hà Nội, Lạng Sơn - Hà
Nội và tuyến đường sắt Thống nhất Hà Nội - TP Hồ Chí Minh. Từ năm đó, phong
trào nghiên cứu khoa học của Bộ môn luôn phát triển và ngày càng nâng cao vị thế
của Bộ môn trong và ngoài nước.
Năm 1981, Bộ môn được phép đào tạo PTS trong nước,
KS Đặng Trần Bảng (Văn phòng Hội đồng Đánh giá trữ lượng khoáng sản), KS Trần
Minh Thế (Viện Thông tin Lưu trữ địa chất) là những nghiên cứu sinh (NCS) đầu
tiên của Bộ môn và đã bảo vệ thành công luận án PTS (TS) năm 1983. Năm 1985,
cùng với Nhà trường, Bộ môn chuyển về khu trường mới ở Cổ Nhuế, Từ Liêm, Hà Nội.
Những ngày đầu không ít khó khăn, nhiều cán bộ chủ chốt của Bộ môn chuyển công
tác, một số được cử đi thực tập sinh, NCS ở
nước ngoài. Tuy nhiên, Bộ môn vẫn không ngừng phát triển. Bộ môn tiếp nhận 5
cán bộ giảng dạy Kinh tế địa chất từ khoa Mỏ để phối hợp xây dựng chương trình
đào tạo ngành Kinh tế địa chất và chuẩn
bị kế hoạch tuyển sinh Kinh tế địa chất.
Để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành Địa chất
và Khai thác Mỏ, năm 1985, Nhà trường đã quyết định giao cho Bộ môn TK-TD xây dựng
chương trình đào tạo kỹ sư Kinh tế địa chất và khóa K.30, K.31 ngành Kinh tế địa
chất do Bộ môn quản lý.
Giai đoạn 1986-1990 đánh dấu bước nhảy vọt trong
lĩnh vực nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất của Bộ môn. Vào thời gian này, Bộ
môn đã chủ trì hoặc đồng chủ trì 3 đề tài cấp Nhà nước, tham gia 4 đề tài
nghiên cứu cấp Nhà nước, hàng chục đề tài cấp Bộ, cấp Ngành trong lĩnh vực điều
tra, đánh giá kinh tế địa chất, ứng dụng các mô hình toán và máy tính trong dự
báo tài nguyên khoáng sản. Điển hình là các đề tài cấp Nhà nước mã số
44A-01-02, 50B, do Liên đoàn Địa chất Xạ-Hiếm phối hợp với Bộ môn thực hiện
trong thời gian 1986-1990 và đề tài KC.09-09 giai đoạn 1990-1994.
Từ đó đến nay, Bộ môn liên tục tham gia các đề
tài nghiên cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ, dự án cấp Tỉnh hoặc đề tài Nghiên
cứu cơ bản. Kết quả nghiên cứu của các đề tài đã có những đóng góp không nhỏ
trong thực tế sản xuất và đào tạo. Trong quá trình thực hiện các đề tài nghiên
cứu khoa học cấp Nhà nước, cấp Bộ và dự án cấp Tỉnh, nhiều cá nhân được tặng
thưởng về thành tích nghiên cứu khoa học.
Năm 1987, để đáp ứng nhu cầu phát triển của ngành
Địa chất, Nhà trường đã quyết định thành lập Bộ môn Kinh tế địa chất trên cơ sở
tách nhóm Kinh tế địa chất từ Bộ môn TK-TD và một số cán bộ giảng dạy của Bộ
môn Khoáng sản. Mặc dù nhóm Kinh tế địa chất chỉ sinh hoạt trong Bộ môn được
hơn 2 năm, nhưng đã để lại nhiều kỷ niệm trong cán bộ giảng dạy của Bộ môn và
sinh viên K.30, K.31 các ngành Địa chất thăm dò và Kinh tế địa chất. Những năm
tháng sinh hoạt học kỹ thuật tại Bộ môn đã mang lại những kinh nghiệm quý báu
cho các thầy cô để xây dựng chương trình đào tạo ngành Kinh tế địa chất sau này.
Giai đoạn 1985-1995, Bộ môn TK-TD không ngừng
phát triển về lượng và chất. Lực lượng cán bộ đã được tăng cường về số lượng và
nhiều cán bộ đã bảo vệ thành công luận án PTS (TS) trong nước và nước ngoài về
tham gia xây dựng Bộ môn. Trong thời gian này, Bộ môn xây dựng thêm nhiều môn học
mới, như: Phương pháp đánh giá kinh tế địa chất tài nguyên khoáng sản, Tin ứng
dụng, Địa chất mỏ. Bộ môn tập trung xây dựng đề cương chi tiết một số môn học
mới và biên soạn bài giảng, giáo trình các môn học chính cho sinh viên đại học,
cao đẳng ngành Địa chất và bài giảng cho cao học ngành Địa chất thăm dò.
Trong những năm 1985-1995, công tác đào tạo sau đại
học trong nước được quan tâm và phát triển. Năm 1994, Bộ môn được phép đào tạo
cao học ngành Địa chất thăm dò và học viên K.1 ngành Địa chất thăm dò là khóa
cao học đầu tiên của trường Đại học Mỏ - Địa chất đã hoàn thành xuất sắc khóa học
và bảo vệ luận văn thạc sỹ năm 1996, trong đó có nhiều người là cán bộ giảng dạy
của khoa Địa chất và 1 người là học viên của nước CHDCND Lào.
Trong những năm 1993-1996, Bộ môn đã tổ chức cho 4
NCS bảo vệ thành công luận án TS (trong đó có 2 cán bộ của Bộ môn). Đến nay đã
có 12 người bảo vệ thành công luận án TS tại Bộ môn (trong đó có 2 người là cán
bộ của nước CHDCND Lào) và 1 người đã hoàn thành việc bảo vệ cấp cơ sở.
Giai đoạn 1996-1998 là giai đoạn chuyển giao thế
hệ cán bộ lãnh đạo của Bộ môn. Nhiều thầy có kinh nghiệm lâu năm trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, là các nhà giáo có uy tín lớn trong và
ngoài trường đã đến tuổi nghỉ công tác quản lý. Một số cán bộ của Bộ môn được
điều động để xây dựng các Bộ môn mới trong trường. Mặc dù trong điều kiện khó
khăn như vậy, Bộ môn vẫn tiếp tục lớn mạnh và trưởng thành, đảm nhận giảng dạy
hàng loạt môn học quan trọng cho sinh viên Địa chất và Địa chất mỏ như: Phương pháp tìm kiếm, Phương pháp thăm dò,
Phương pháp đánh giá kinh tế địa chất, Toán địa chất, Tin ứng dụng, GIS ứng dụng
trong địa chất, Cơ sở địa chất và phương pháp thăm dò các mỏ than, Chỉ dẫn công
tác địa chất trong xí nghiệp mỏ, Địa chất khai thác mỏ, Phương pháp tìm kiếm trọng
sa và các chuyên đề cho cao học và NCS: Địa
thống kê, Phương pháp xử lý thông tin địa chất, Lập và phân tích dự án đầu tư
xây dựng mỏ, Mô hình hóa các tính chất khoáng sản và phương pháp thăm dò,
Phương pháp tìm kiếm và dự báo khoáng sản và các môn học cho sinh viên
ngoài ngành. Đây là thời kỳ Bộ môn triển khai hàng loạt dự án điều tra cơ bản
và đánh giá tài nguyên khoáng phục vụ phát triển kinh tế - xã hội của các tỉnh
Quảng Ninh, Lào Cai, Quảng Nam - Đà Nẵng, Phú Yên, Quảng Trị, Hà Nam, ... Trong
giai đoạn này cán bộ giảng dạy của Bộ môn đã chủ trì 3 dự án và tham gia 6 dự
án cấp tỉnh.
Giai đoạn
2001-2008 là giai đoạn đột phá trong công tác biên soạn giáo trình và bài giảng
của Bộ môn. Trong một thời gian ngắn, Bộ môn đã tập trung toàn bộ các thầy, cô
có kinh nghiệm trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học tham gia biên soạn giáo
trình, bài giảng. Đến nay, Bộ môn đã biên soạn được 3 giáo trình cấp Nhà xuất bản:
Phương pháp tìm kiếm mỏ, Địa chất khai
thác mỏ, Phương pháp tìm kiếm trọng sa và đang biên soạn giáo trình Toán địa chất; 6 giáo trình cấp trường: Phương pháp thăm dò mỏ, Phương pháp đánh giá
kinh tế địa chất tài nguyên khoáng, Chỉ dẫn công tác địa chất trong xý nghiệp
khai thác, Cơ sở địa chất và phương pháp thăm dò các mỏ than, Hướng dẫn thực tập
sản xuất, Thực tập và thiết kế đồ án tốt nghiệp, đang biên soạn giáo trình Nguyên liệu khoáng và công nghệ sản xuất đá
xây dựng và đá ốp lát, Phương pháp tìm kiếm - thăm dò và đánh giá mỏ, Tin ứng dụng,
GIS ứng dụng trong địa chất.
Ngoài ra, đã biên soạn 5 giáo trình giảng dạy cao
học và NCS: Phương pháp tìm kiếm và dự
báo tài nguyên khoáng sản, Phương pháp xử lý thông tin địa chất, Phương pháp
đánh giá và phân tích dự án đầu tư, GIS và địa thống kê, Mô hình hóa các tính
chất của khoáng sản và Phương pháp
thăm dò.
Ngoài công tác giảng dạy, nghiên cứu khoa học phục
vụ sản xuất, Bộ môn còn mở rộng công tác hợp tác trong lĩnh vực đào tạo sau đại
học với các trường Đại học Khoa học tự nhiên Huế (Đại học Huế), Đại học Paichai
(Hàn Quốc), Cao đẳng Bách Khoa (CHDCND Lào), tổ chức nhiều khóa học bồi dưỡng
chuyên đề cho kỹ sư địa chất, phối hợp với Cục Địa chất và Khoáng sản VN tổ chức
các lớp chủ nhiệm đề án cho ngành Địa chất. Nhiều cán bộ tham gia công tác tư vấn,
cộng tác viên khoa học hoặc làm cố vấn trong các chương trình nghiên cứu khoa học
ở các Liên đoàn địa chất (Cục Địa chất và Khoáng sản VN), Văn phòng Hội đồng
Đánh giá Trữ lượng Khoáng sản, Tập đoàn Công nghiệp Than và Khoáng sản VN, Tổng
công ty Xây dựng và Xuất khẩu VN, Tổng công ty Sông Đà, Viện Khoa học Địa chất
và Khoáng sản, Viện Công nghệ Xạ-Hiếm, Viện Thông tin Lưu trữ Địa chất, các sở
Tài nguyên và Môi trường, Sở Công nghiệp của các tỉnh, thành, các Công ty, Tổng
công ty trong và ngoài nước đầu tư trong lĩnh vực tìm kiếm, thăm dò và khai
thác khoáng sản ở Việt Nam, Lào và Campuchia.
Trong thời gian này, Bộ môn đã tham gia 1 đề tài
cấp Nhà nước, chủ trì 8 đề tài cấp Bộ (trong đó có 1 đề tài trọng điểm), tham
gia 12 đề tài cấp Bộ (trong đó có nhiều đề tài trọng điểm do Bộ Khoa học và
Công nghệ, Bộ Tài nguyên và Môi trường, Bộ Công nghiệp quản lý). Cũng trong thời
gian này, Bộ môn đã hướng dẫn tốt nghiệp cho hàng trăm sinh viên Địa chất, Địa
chất mỏ, cao đẳng Địa chất, 30 học viên cao học đã bảo vệ thành công luận văn
thạc sỹ địa chất và 5 NCS đã bảo vệ thành công luận án TS (trong đó có 2 cán bộ
giảng dạy của Bộ môn và 2 là NCS nước CHDCND Lào).
Có thể nói, Bộ môn TK-TD là một trong số các Bộ
môn của trường Đại học M-ĐC luôn đi đầu trong lĩnh vực nghiên cứu khoa học phục
vụ sản xuất, tham gia đào tạo cao học và NCS cho nước CHDCND Lào. Đến nay, Bộ
môn đã chủ trì hàng trăm đề án thăm dò khoáng sản thuộc nhiều lĩnh vực khoáng sản
khác nhau (kim loại đen, kim loại màu, kim loại quý-hiếm, phóng xạ - đất hiếm,
than, nguyên liệu sản xuất xi măng, đá xây dựng và ốp lát, cát, cuội, sỏi xây dựng,
...). Ngoài các đề án trong nước, Bộ môn còn hợp tác nghiên cứu khoa học với
nhiều tổ chức Địa chất thăm dò và khai thác mỏ và các trường đại học trên thế
giới như: Hàn Quốc, CHDCND Lào, Ấn Độ, Thái Lan, Trung Quốc, CH Pháp, Vương quốc
Campuchia. Những mối quan hệ và hợp tác này đã góp phần nâng cao uy tín và vị
thế của Bộ môn TK-TD nói riêng, khoa Địa chất và trường Đại học M-ĐC nói chung.
Công tác nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ
của Bộ môn không chỉ được chứng minh qua các đề tài, các dự án, hợp đồng sản xuất
mà còn được thể hiện thông qua các bài báo, báo cáo khoa học của cán bộ đăng
trên các tạp chí chuyên ngành trong nước và quốc tế. Đến nay đã có trên 100 bài
báo và hàng trăm báo cáo công bố tại các Hội nghị khoa học Địa chất, Hội nghị
khoa học Mỏ toàn quốc và trong các hội nghị khoa học của trường Đại học M-ĐC.
Trong suốt chặng đường 30 năm xây dựng và phát
triển, Bộ môn luôn đi đầu trong công tác hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học.
Năm nào Bộ môn cũng tổ chức thành công 1 tiểu ban độc lập cho sinh viên ngành Địa
chất, Địa chất mỏ. Hàng năm đều có nhóm sinh viên đoạt giải nghiên cứu khoa học
của trường, có nhiều sinh viên đoạt giải VIFOTEC.
Do nhu cầu thực tế luôn biến đổi và phát triển, công
tác đào tạo và nghiên cứu khoa học, triển khai công nghệ phục vụ sản xuất của Bộ
môn cũng trải qua nhiều biến động. Nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững từ năm
1998 đến nay, cùng với sự phát triển chung của trường, Bộ môn đã đào tạo thêm chuyên
ngành Địa chất mỏ ở Quảng Ninh, Địa chất ở Vũng Tàu và cao đẳng Địa chất liên
thông Cao đẳng - Đại học. Từ đó đến nay, công tác đào tạo của Bộ môn luôn phát
triển và thu hút ngày càng nhiều sinh viên tham gia học tập và có nhiều đóng
góp cho ngành Địa chất nói riêng và xã hội nói chung. Hiện nay, Bộ môn trực tiếp
quản lý công tác đào tạo sinh viên cao đẳng, đại
học ngành Địa chất, Địa chất mỏ, đào
tạo cao học ngành Địa chất Khoáng sản và Thăm dò, đào tạo NCS ngành Địa chất
Tìm kiếm, Thăm dò khoáng sản kim loại và không kim loại.
Ngày nay, trước những đòi hỏi của sự nghiệp đào tạo
cán bộ Địa chất trong thời kỳ hội nhập kinh tế thế giới và nước ta đã chính thức
là thành viên của WTO, Bộ môn TK-TD phối hợp với các Bộ môn khác trong khoa Địa
chất và trong toàn trường đã và đang xây dựng lại chương trình đào tạo theo tín
chỉ đa dạng hóa ngành nghề đào tạo, xây dựng và hoàn chỉnh các đề cương môn học,
chương trình đào tạo cao học, nghiên cứu sinh theo hướng hiện đại hóa và phù hợp
với “mẫu người Địa chất” của thế kỷ XXI – giỏi về địa chất, am hiểu về công nghệ
và hiểu biết về kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Để đáp ứng yêu cầu cho công tác đào tạo trong
giai đoạn mới, Bộ môn đã và đang tích cực chủ động đầu tư trang thiết bị phòng
thí nghiệm, thiết bị giảng dạy, xây dựng tủ sách tham khảo cho cán bộ và sinh
viên, nghiên cứu sinh, xây dựng và hoàn chỉnh bãi thực tập sản xuất ở Thanh Thủy
(Phú Thọ), bãi thực tập Địa chất mỏ ở Kinh Môn (Hải Dương), Mạo Khê (Quảng
Ninh). Hàng năm xây dựng kế hoạch tuyển chọn cán bộ và cử đi đào tạo cao học,
NCS trong và ngoài nước hoặc tham gia các dự án quốc tế nhằm nâng cao kiến thức
cho cán bộ, nâng cao chất lượng đào tạo đại học và sau đại học. Phấn đấu đến
năm 2010, Bộ môn xây dựng hoàn chỉnh 5 nhóm chuyên môn sâu với định biên 14-15
cán bộ giảng dạy và phục vụ giảng dạy, luôn bảo đảm 70-80 % cán bộ có trình độ
ThS, TS. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, cán bộ giảng dạy
phải phấn đấu để trở thành nhà chuyên gia giỏi trong lĩnh vực TK-TD, đánh giá
Kinh tế địa chất tài nguyên khoáng sản và công nghệ tin học trong lĩnh vực địa
chất.
Với những thành tích đã đạt được trong sự nghiệp
đào tạo, nghiên cứu khoa học phục vụ sản xuất, năm 2004 Bộ môn đã được Chính phủ
tặng bằng khen, nhiều năm được công nhận tổ Lao động XHCN, tổ Lao động xuất sắc,
được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng bằng khen (các năm 1999, 2001, 2002, 2007). Suốt
chặng đường xây dựng và phát triển, nhiều cán bộ của Bộ môn đã được phong tặng
các danh hiệu cao quý: Nhà giáo ưu tú (GS.TS Đồng Văn Nhì), Giải thưởng Hồ Chí
Minh (PGS.TS Đặng Xuân Phong, đồng tác giả), Huy chương danh dự vì thế hệ trẻ,
Huy chương tuổi trẻ sáng tạo (PGS.TS Nguyễn Phương); một số nhà giáo được phong
hàm Giáo sư (GS.TS Đồng Văn Nhì), Phó Giáo sư (PGS.TS Đặng Xuân Phong, PGS.TS
Trương Xuân Luận, PGS.TS Nguyễn Phương). Nhiều thầy được Thủ tướng Chính phủ, Bộ
trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Khoa học và Công nghệ, Bộ Công nghiệp tặng bằng
khen, nhiều thầy cô được nhận Huy chương vì sự nghiệp giáo dục, vì sự nghiệp khoa
học công nghệ, vì sự nghiệp địa chất, vì sự nghiệp công đoàn cùng nhiều bằng
khen của các tỉnh, thành, Nhà trường và các đoàn thể.
Những thành tựu trong 30 năm xây dựng và phát triển
của Bộ môn TK-TD nêu trên trước hết là thành quả nỗ lực phấn đấu và đóng góp bền
bỉ của nhiều thế hệ thầy và trò trong Bộ môn. Ngoài ra, Bộ môn còn nhận được sự
quan tâm giúp đỡ của khoa Địa chất, Ban Giám hiệu trường Đại học Mỏ - Địa chất,
các Bộ môn, phòng, khoa, ban trong trường, sự tương trợ, hợp tác của nhiều cơ
quan, tổ chức trong và ngoài nước, những nhân tố không thể thiếu đối với sự lớn
mạnh và phát triển của Bộ môn TK-TD.
Nhân dịp kỷ niệm 30 năm ngày thành lập, Bộ môn
Tìm kiếm - Thăm dò xin gửi lời chào trân trọng và lời cảm ơn chân thành nhất tới
sự hợp tác và giúp đỡ quý báu đó
Chủ nhiệm Bộ môn Tìm kiếm - Thăm dò
PGS.TS. NGUYỄN PHƯƠNG