KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU BƯỚC ĐẦU VỀ CHẤT LƯỢNG
NƯỚC THẢI Ở MỘT SỐ LÀNG NGHỀ TỈNH THÁI BÌNH

ĐOÀN THỊ THU TRÀ1, NGUYỄN TRUNG MINH1,
 NGUYỄN VĂN THÀNH2, NGUYỄN THỊ PHƯƠNG2

1Viện Địa Chất, Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, ngõ 84, phố Chùa Láng, Hà Nội.
 2 Trung tâm Phân tích và Thí nghiệm Địa chất, Thanh Xuân, Hà Nội

Tóm tắt: Thái Bình là một tỉnh có nhiều ngành nghề truyền thống được khôi phục và phát triển. Bên cạnh những thành tựu đạt được về mặt kinh tế thì vấn đề ô nhiễm môi trường đang là mối quan tâm lớn của các nhà quản lý để tìm ra phương hướng phát triển bền vững cho các làng nghề. Ô nhiễm nước mặt và nước dưới đất là một trong những vấn đề ưu tiên nghiên cứu vì nó ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của cộng đồng dân cư trong vùng. Một trong những nguyên nhân chính gây ra tình trạng ô nhiễm đó là do nước thải của các làng nghề không được xử lý đạt tiêu chuẩn về chất lượng nước thải trước khi đổ vào hệ thống thoát nước của khu vực. Các kết quả phân tích mẫu nước của chúng tôi ở ba làng nghề: bún bánh Vũ Hội, chạm bạc Đồng Xâm và dệt đũi Nam Cao cho thấy nước thải của các làng nghề này đang trong tình trạng bị ô nhiễm nghiêm trọng.


I. MỞ ĐẦU

Từ khi Nhà nước có chủ trương mở cửa để phát triển kinh tế, trên bình diện cả nước nói chung và ở các vùng nông thôn Thái Bình nói riêng, nhiều nghành nghề truyền thống được khôi phục, phát triển mạnh mẽ thu hút hàng vạn lao động; một bộ phận các hộ có nghề giàu lên, bộ mặt nông thôn thay đổi nhanh chóng. Theo số liệu điều tra, đến nay ở Thái Bình đã có 82 làng nghề [1, 2], so với toàn quốc, số làng nghề Thái Bình chỉ đứng sau tỉnh Hà Tây. Bên cạnh những thành tựu, những thay đổi ở các làng nghề, xuất hiện nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng, đó là nước thải, khí thải của các làng nghề gây ra ô nhiễm môi trường trong khu vực, ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng cuộc sống và sức khỏe của người dân.

Việc nghiên cứu chất lượng nước thải của các làng nghề hiện nay được rất nhiều người quan tâm vì đây chính là nguyên nhân gây ra tình trạng ô nhiễm nước mặt và nước dưới đất của vùng làng nghề và các vùng lân cận. Các làng nghề trong tỉnh Thái Bình hầu như chưa có các thiết bị xử lý nước thải nên nước thải độc hại được đổ thẳng ra cống rãnh và chảy vào hệ thống kênh mương tưới tiêu và sông. Đây chính là nguyên nhân cơ bản dẫn đến tình trạng ô nhiễm nước mặt và nước dưới đất trong vùng.

Với mục đích góp phần vào việc phát triển bền vững các làng nghề thuộc tỉnh Thái Bình, tập thể tác giả đã tiến hành nghiên cứu chất lượng nước thải ba làng nghề, đó là: làng nghề dệt đũi Nam Cao, làng nghề làm bún, bánh Vũ Hội và làng nghề chạm bạc Đồng Xâm. Trong bài báo này, chúng tôi chủ yếu đưa ra những kết quả nghiên cứu mới nhất về tình trạng ô nhiễm kim loại nặng của nước thải các làng nghề nêu trên.

II. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Để đánh giá chất lượng nước thải của ba làng nghề Vũ Hội, Đồng Xâm và Nam Cao, chúng tôi đã sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:

Phương pháp khảo sát ngoài thực địa. Chúng tôi đã tiến hành đi khảo sát các cơ sở sản xuất trong các làng nghề nêu trên, theo dõi chu trình sản xuất và tiến hành phỏng vấn người dân về hiện trạng ô nhiễm của nước thải các làng nghề.

Phương pháp lấy mẫu ngoài thực địa. Chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu nước thải và tiến hành đo các yếu tố về môi trường như: độ pH, Eh, BOD, ...

Phương pháp phân tích trong phòng thí nghiệm. Các mẫu nước được đem về phân tích bằng phương pháp "ICP - đồng thời" để xác định hàm lượng các kim loại có trong nước thải.

Phương pháp tổng hợp và xử lý số liệu. Chúng tôi đã tiến hành thu thập thêm tài liệu về chất lượng nước thải của ba làng nghề Vũ Hội, Đồng Xâm và Nam Cao trong những năm trước, kết hợp cùng với những số liệu phân tích mới do chúng tôi phân tích để từ đó có cái nhìn tổng quan về chất lượng của nước thải của các làng nghề này. Từ kết quả phân tích về hàm lượng của các kim loại trong nước thải, kết hợp với công tác điều tra ngoài thực địa và thu thập số liệu, chúng tôi đã đánh giá được chất lượng của các làng nghề nêu trên.

III. CHẤT LƯỢNG NƯỚC THẢI CỦA CÁC LÀNG NGHỀ VŨ HỘI, ĐỒNG XÂM VÀ NAM CAO

1. Chất lượng nước thải của làng nghề làm bún, bánh Vũ Hội

Làng nghề làm bún bánh Vũ Hội tập trung chủ yếu ở ba xóm Bình An, Phú Thứ và Năng Tĩnh thuộc xã Vũ Hội. Làng nghề này thu hút  khoảng 900 hộ tham gia, ngoài ra còn một số hộ ở các xóm khác. Bình quân mỗi ngày làng nghề này sử dụng khoảng 10 tấn gạo, ngày cao điểm lên đến 15 tấn [3]. Nghề này lấy nguyên liệu chủ yếu là gạo; các phụ gia đi kèm có thể là hàn the. Nước thải của các hộ làm bún, bánh mang nhiều chất hữu cơ, chủ yếu là hyđrat carbon và protein dễ phân hủy, thối rữa, gây ra mùi hôi thối làm ô nhiễm môi trường nước ở các xóm Bình An, Phú Thứ, Năng Tĩnh (xem Bảng 1). Trong mẫu nước thải của làng nghề Vũ Hội chúng tôi lấy tại bãi thải cạnh  nhà bà Chung thuộc xóm Bình An (Bảng 2), thành phần các nguyên tố như sắt, arsen, cađmi, nickel, đồng, chì, thiếc và kẽm dưới mức tiêu chuẩn cho phép của Việt Nam, chỉ có mangan là vượt tiêu chuẩn cho phép khoảng 4 lần.


Bảng 1. Kết quả phân tích nước thải tại làng nghề làm bún, bánh Vũ Hội

STT

Các chỉ tiêu phân tích

VH

TCVN  5945/2005 loại B

1

Độ pH

7,2

5,5-9,0

2

Độ đục

75

--

3

Rắn lơ lửng (mg/l)

165

100

4

Rắn - S (mg/l)

270

--

5

Oxy tự do - DO (mg/l)

2,10

4

6

Oxy sinh hóa - BOD (mg/l)

175,20

50

7

Oxy hóa học - COD (mg/l)

207,50

80

8

H2S (mg/l)

1,95

0,5

9

NH3 (mg/l)

1,35

1,0

10

Coliform (MPN/100 ml)

12500

5000

11

Tổng nitơ (N-NH3)

2,8

30

12

Tổng phosphor (mg/l)

1,20

6

 


Nhận xét: Từ kết quả phân tích mẫu nước thải, ta thấy nước thải từ các cơ sở sản xuất bún bánh trước khi đổ ra môi trường xung quanh đã bị ô nhiễm, hầu như các chỉ tiêu đều cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 1,5 đến 4 lần.


Bảng 2. Kết quả phân tích hàm lượng kim loại trong nước thải
các làng nghề Vũ Hội, Nam Cao và Đồng Xâm

 

STT

 

Chỉ tiêu

Ký hiệu mẫu

VH
(mg/l)

NC
(mg/l)

TB
(mg/l)

TCVN5945/2005
loại B (mg/l)

1

Ag

<0,005

0,034

0,25

-

2

Al

<0,03

57,10

8,21

-

3

As

0,040

<0,02

<0,02

0,1

4

B

0,156

0,67

1,31

-

5

Ba

0,071

0,176

0,043

-

6

Ca

105,2

153,9

548,8

-

7

Cd

<0,005

0,018

<0,005

0,01

8

Co

<0,005

<0,005

0,036

-

9

Cr

<0,01

0,071

0,74

-

10

Cu

0,030

0,23

178,8

2

11

Fe

1,08

9,60

157,7

5

12

K

59,15

188,4

25,09

-

13

Mg

32,69

89,35

35,90

-

14

Mn

4,64

2,28

1,78

1

15

Mo

<0,005

<0,005

<0,005

-

16

Na

2,87

15,7

12,88

-

17

Ni

<0,005

<0,005

2,21

0,5

18

Pb

<0,01

0,167

2,75

0,5

19

S

12,49

178,6

355,0

-

20

Sb

<0,01

<0,01

0,01

-

21

Se

0,014

<0,01

<0,01

-

22

Si

16,67

1230

23,42

-

23

Sn

0,056

1,28

0,16

1

24

Sr

0,35

0,47

0,73

-

25

Ti

<0,005

1,91

0,10

-

26

V

0,035

1,15

<0,005

-

27

W

<0,01

<0,01

1,92

-

28

Zn

<0,01

2,56

48,4

3

29

Zr

<0,01

0,099

<0,01

-

Ghi chú: VH là ký hiệu mẫu nước thải của làng nghề bún bánh Vũ Hội.

              NC là ký hiệu mẫu nước thải của làng nghề dệt đũi Nam Cao

             TB là ký hiệu mẫu nước thải của làng  nghề chạm bạc Đồng Xâm.


2. Chất lượng nước thải của làng nghề dệt đũi Nam Cao

Để nghiên cứu chất lượng nước thải của làng nghề Nam Cao, chúng tôi đã đi tìm hiểu rất kỹ quy trình sản xuất của làng nghề, đặc biệt là khâu tẩy nhuộm vì đây là khâu chính gây ra ô nhiễm nước thải. Cả xã Nam Cao có 14 lò tẩy, với khối lượng vật tư hóa chất lớn nhưng nước thải không được xử lý mà đổ trực tiếp ra kênh mương, ao hồ quanh làng làm ô nhiễm nguồn nước mặt, nước dưới đất. Các hoạt động tẩy nhuộm ở đây phân tán trong các hộ gia đình nên rất khó thu gom nước thải để xử lý chung.

Chúng tôi đã tiến hành lấy mẫu nước thải tại xí nghiệp dệt nhuộm Đại Hòa, các kết quả phân tích (Bảng 3) cho thấy nước thải có các chỉ tiêu về hàm lượng chất rắn lơ lửng, hàm lượng oxy sinh hóa và oxy hóa học, hàm lượng sulfur (H2S) cao hơn tiêu chuẩn cho phép từ 3 đến 4 lần. Trong kết quả phân tích về thành phần các kim loại (xem Bảng 2) thì các nguyên tố Fe, Mn, Sn đều vượt quá tiêu chuẩn cho phép. Đây là những nguyên tố vô cùng độc hại đối với sức khỏe của con người và động vật.

Như vậy, những kết quả nghiên cứu cho thấy nước từ các hộ dệt nhuộm Nam Cao thải ra môi trường bị ô nhiễm nặng. Điều này hoàn toàn đúng với những phản ảnh của người dân và sự quan sát của chúng tôi.


Bảng 3. Kết quả phân tích nước thải tại xí nghiệp dệt nhuộm Đại Hòa

STT

Các chỉ tiêu phân tích

Mẫu NC

TCVN-5945 (2005-B)

1

Độ pH

8,2

5,5 - 9

2

Độ đục

215

--

3

Độ màu

260

--

4

Rắn lơ lửng (mg/l)

375

100

5

Rắn - S (mg/l)

510

--

6

Oxy tự do - DO (mg/l)

2,5

--

7

Oxy sinh hóa - BOD (mg/l)

212,5

50

8

Oxy hóa học - COD (mg/l)

372,5

80

9

Tổng nitơ - N-NH3 (mg/l)

1,7

1

10

Sulfur - H2S (mg/l)

1,5

0,5

11

Dầu mỡ khoáng

0,17

5

3. Chất lượng nước thải của làng nghề chạm bạc Đồng Xâm.

Làng nghề chạm bạc Đồng Xâm hàng năm sử dụng một khối lượng kim loại màu và hóa chất độc hại rất lớn như axit nitric (HNO3), axit sulfuric (H2SO4), cyanur (CN) và thủy ngân (Hg). Các hóa chất này được lưu giữ ngay trong nhà dân để sử dụng hàng ngày [3], đây là một mối nguy hiểm rất lớn cho sự an toàn về sức khỏe và tính mạng của những thành viên trong gia đình họ. Với khối lượng hóa chất lớn được đưa vào sản xuất, một phần hóa chất tham gia vào các phản ứng tác động vào sản phẩm, số còn thừa theo nước thải và khí thải đi vào môi trường gây ô nhiễm môi trường không khí và môi trường nước. Các quy trình hóa bạc để tạo muối bạc đều phải mang ra cánh đồng làm vào ban đêm. Nước thải của việc rửa sau mạ lần 1, lần 2 và tẩy rửa bằng hóa chất đều đổ ra vườn, ao, sông ngòi gây ô nhiễm môi trường và ảnh hưởng trực tiếp tới sức khỏe của dân trong khu vực.

Bảng 4. Kết quả phân tích nước thải tại hợp tác xã Phú Lợi, làng nghề Đồng Xâm

STT

Các chỉ tiêu phân tích

Mẫu TB

TCVN 5945/2005, loại B

1

Độ pH

8,6

5,5-9,0

2

Độ đục

4,5

--

3

Rắn lơ lửng (mg/l)

120

100

4

Oxy tự do - DO (mg/l)

3,7

--

5

Oxy sinh hóa - BOD (mg/l)

105,0

50

6

Oxy hóa học - COD (mg/l)

215,0

80

7

Tổng nitơ - N-NH3

1,2

1


Các kết quả phân tích mẫu nước (Bảng 4 và Bảng 2) chúng tôi lấy tại hợp tác xã Phú Lợi cho thấy nước thải của làng nghề trạm bạc Đồng Xâm bị ô nhiễm kim loại nặng, đó là Fe, Mn, Ni, Cu, Zn. Đáng chú ý là hàm lượng Cu vượt quá tiêu chuẩn cho phép hàng trăm lần, hàm lượng Fe và Mn vượt tiêu chuẩn hàng chục lần.

IV. KẾT LUẬN

-  Nước thải của ba làng nghề bún bánh Vũ Hội, dệt đũi Nam Cao và chạm bạc Đồng Xâm đều không đạt tiêu chuẩn cho phép để thải ra môi trường xung quanh. Tuy nhiên, nước thải của từng làng nghề nêu trên lại có những đặc thù riêng.

- Nước thải của làng nghề Vũ Hội bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ là chính.

- Nước thải của làng nghề Nam Cao bị ô nhiễm bởi các chất hữu cơ, chất kiềm và cả các kim loại độc hại như Fe, Mn, Sn.

- Nước thải của làng nghề Đồng Xâm bị ô nhiễm bởi axit, các chất hữu cơ và các kim loại nặng độc hại, đặc biệt là Cu, Fe, Mn, Ni và Zn, trong đó đáng chú ý là Cu, Fe và Zn vượt tiêu chuẩn hàng chục lần.

- Nguyên nhân chủ yếu của tình trạng ô nhiễm này là do các làng nghề chưa đầu tư đúng mức vào khâu xử lý nước thải trước khi đổ ra môi trường xung quanh.

Qua công tác nghiên cứu cụ thể cả 3 làng nghề này, chúng tôi xin đưa ra một số khuyến nghị nhằm góp phần tìm ra các giải pháp cải thiện chất lượng nước thải cho các làng nghề này như sau:

- Cần phải quy hoạch lại các làng nghề, tập trung các hộ sản xuất lại gần nhau để tiện cho khâu thu gom nước thải.

- Nước thải của các hộ sau khi thu gom vào một khu vực chung cần phải được xử lý ngay tại đầu nguồn để tiết kiệm chi phí, rồi sau đó mới được đưa vào hệ thống thoát nước chung của khu vực.

- Phát triển hơn nữa công tác giáo dục ý thức bảo vệ môi trường cho các chủ hộ sản xuất, cho công nhân và từng người dân sống trong khu vực.

- Cần có những quy định về xử phạt thật nghiêm đối với những hộ sản xuất nào không chịu xử lý nước thải trước khi đổ ra kênh mương.

VĂN LIỆU

1. Lê Quý An, Lê Thạc Cán và nnk., 2004. Việt Nam môi trường và cuộc sống. Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.

2. Phạm Khôi Nguyên, Trần Hồng Hà, Phùng Văn Vui và nnk., 2005. Báo cáo Hiện trạng môi trường quốc gia. Lưu trữ Bộ Tài nguyên và Môi trường, Hà Nội.

3. Vũ Thanh Xuân, 2001. Hiện trạng môi trường làng nghề ở Thái Bình và một số giải pháp xử lý khả thi những làng nghề bị ô nhiễm nặng. Báo cáo Đề tài khoa học, Lưu trữ Sở TN&MT Thái Bình.