VỀ HIỆU QUẢ CỦA CÁC PHƯƠNG PHÁP ĐỊA VẬT LÝ
ĐÃ ÁP DỤNG TẠI MỎ MAGNESIT KON QUENG
NGÔ VĂN MINH, NGUYỄN TRẦN TÂN
Liên đoàn Vật lý Địa chất, Thanh Xuân,
Hà Nội
Tóm tắt: Trên cơ sở kết quả các phương pháp địa
vật lý đã thi công tại mỏ magnesit Kon Queng trong 3 đề án địa chất từ năm 2000
đến năm 2007, các tác giả trình bày khái quát các dạng phương pháp, khối lượng
đã áp dụng, hệ thiết bị, mạng lưới thi công và hiệu quả của từng phương pháp. Từ đó rút ra hệ phương pháp hiệu quả trong tìm kiếm quặng magnesit
tại vùng nghiên cứu.
MỞ ĐẦU
Mỏ magnesit Kon Queng thuộc địa phận xã Sro, huyện Kon
Chro, tỉnh Gia Lai, được phát hiện qua công tác kiểm tra sơ bộ các dị thường
địa vật lý máy bay năm 1999. Từ đó đến nay, trên diện tích khu mỏ đã thi công 3
đề án địa chất là: đề án kiểm tra chi tiết cụm dị thường địa vật lý máy bay
vùng Đăk Song, Gia Lai [3]; đề án đánh giá triển vọng magnesit vùng Kon Queng,
huyện Kon Chro, tỉnh Gia Lai (Ngô Văn Minh và nnk., 2003-2004); đề án đánh giá
tiềm năng magnesit vùng tây Kon Queng, huyện Kon Chro, tỉnh Gia Lai (Ngô Văn
Minh và nnk., 2006-2008). Trong tất cả các đề án, công tác
địa vật lý đã được đầu tư đủ mức và có hiệu quả thiết thực trong phát hiện, tìm
kiếm và đánh giá mỏ khoáng sản quan trọng này.
1. Đặc điểm địa chất
Mỏ Kon Queng nằm ở trung tâm địa
khối Kon Tum. Tham gia
vào cấu trúc địa chất của mỏ có các thành tạo địa chất như sau:
Hệ tầng Phong
Hanh (Є-S ph): gồm đolomit mầu xám, xám sáng, nâu
vàng, đá phiến sét mầu đen, argilit màu xám bạc xen bazan porphyrit, đá phiến
silic phân dải; chuyển tiếp lên trên là quarzit trắng, cát kết dạng quarzit và
quarzit sericit. Bề dày của hệ tầng khoảng 600 m.
Hệ tầng Mang Yang
(T2a my): bao gồm cuội kết đa khoáng, sạn kết,
anđesitođacit, đacit, ryolit, felsit và tuf của chúng; cát kết đa khoáng xen
bột kết, tufit, đá phiến sét, đôi nơi có sét than. Hệ tầng
này phủ bất chỉnh hợp trên hệ tầng Phong Hanh. Bề dày chung
của hệ tầng khoảng 285-880 m.
Phức hệ Vân Canh (G/T2 vc): gồm granosyenit biotit và
granit biotit. Các đá này có mầu nâu hồng, đốm đen, hạt vừa
tới thô, kiến trúc nửa tự hình, cấu tạo khối. Các khối
xâm nhập của phức hệ này xuyên cắt và gây biến đổi các đá của hai hệ tầng nói
trên.
Cấu trúc địa chất: các đá hệ tầng Phong Hanh bị biến dạng tạo các nếp
uốn nhỏ với trục gần như nằm ngang và có phương TB-ĐN. Phá huỷ đứt gẫy chủ yếu
là TB-ĐN và á vĩ tuyến [4]. Trong các khe nứt tách phương á kinh tuyến
thường gặp các đá mạch bazơ - trung tính xuyên lấp.
2. Đặc điểm khoáng sản
Quặng magnesit tinh thể có giá trị
kinh tế nằm trong các tập đolomit của hệ tầng Phong Hanh [6].
Trong vùng mỏ Kon Queng đã phát
hiện 3 thân quặng magnesit (Hình 1). Các thân quặng có dạng tầng, đôi
khi dạng thấu kính. Thân quặng số 1 dày 40÷60 m, chiều dài theo phương
khoảng 720 m, chiều dài theo hướng dốc khoảng 200÷300 m. Thân quặng số 2 dày
60÷100 m, chiều dài theo phương khoảng 1000 m, chiều dài theo hướng dốc khoảng
250÷300 m. Thân quặng số 3 dày 20÷30 m, chiều dài theo phương khoảng 420 m,
chiều dài theo hướng dốc khoảng 100÷200 m.

Hình 1. Sơ đồ địa chất vùng Kon Queng, Gia Lai
Chỉ dẫn: 1- Phức hệ Vân Canh: granosyenit, granit biotit; 2-
Hệ tầng Mang Yang: ryolit và tuf của chúng; 3- Hệ tầng Phong Hanh, Tập 1: đá
phiến sét, đolomit; 4- Tập 2: cát kết dạng quarzit, quarzit sericit; 5- Tập 3:
đá phiến sericit; 6- Thân quặng magnesit và số hiệu; 7- Đolomit; 8- Đứt gẫy; 9-
Dăm kết kiến tạo; 10- Ranh giới địa chất: a- xác định, b- dự kiến; 11- Ranh
giới bất chỉnh hợp; 12- Thế nằm.

Năm 2004 [5],
trữ lượng khoáng sản và tài nguyên dự báo cho phần phía đông của mỏ Kon Queng
là 14 triệu tấn quặng, với mức hàm lượng MgO trung bình 43,17% (CaO = 1,34%;
SiO2 = 2,24%; Fe2O3 = 3,80%). Ở phần phía tây
hiện đang có đề án đánh giá, kết quả bước đầu cho thấy
quặng ở đây có chất lượng khá hơn và trữ lượng lớn. Trữ lượng
và tài nguyên dự báo cho toàn mỏ Kon Queng có thể đạt tới 30 triệu tấn quặng.
II. HIỆU QUẢ CỦA CÔNG TÁC
ĐỊA VẬT LÝ
1. Công tác bay đo từ phổ gamma
tỷ lệ 1:25.000
Mỏ Kon Queng nằm trọn trong diện tích vùng bay Quy
Nhơn [2]. Các tuyến bay được
thực hiện theo phương ĐB-TN, khoảng cách tuyến bay khoảng 250 m, độ cao bay
trung bình 70 m. Từ kết quả bay đo, các tác giả đã luận giải, dự kiến trong phạm
vi vùng Kon Queng có các thành tạo trầm tích biến chất yếu chứa các vỉa đá
carbonat (đolomit). Đây chính là tiền đề quan trọng để nghiên
cứu các đá carbonat và khoáng sản liên quan trong quá trình điều tra khoáng sản
ở các bước tiếp.
2. Công tác đo trọng lực tỷ lệ
1:50.000 và 1:100.000
Công tác này đã được thực hiện trong đề án đo vẽ trọng lực tỷ lệ 1:50.000 và 1:100.000 vùng Đông Kon
Tum [8]. Trong đề án này có
chuyên đề “Tổng hợp và xử lý các tài liệu bay đo từ-phổ gamma” trên diện tích
9250 km2, bao trùm cả vùng Kon Queng. Thực hiện
chuyên đề này, Quách Kim Chữ và Nguyễn Tài Thinh đã khoanh định cụm dị thường
Đăk Song. Cụm dị thường này có bản chất U, tỷ số F cao, Th/U thấp, có tổ
hợp dấu hiệu dự báo triển vọng quặng vàng - đa kim,
v.v…. Chính từ kết quả này, Đoàn Địa vật lý Mặt đất đã tiến
hành phổ tra và phát hiện magnesit tại Kon Queng (Ngô Văn Minh và nnk., 1999).
3. Công tác đo xạ đường bộ tỷ lệ
1:25.000
Công tác này được tiến hành trên diện tích 90 km2
cùng với công tác đo vẽ địa chất tỷ lệ 1:25.000 trong khuôn khổ đề án Kiểm tra
chi tiết cụm dị thường địa vật lý máy bay vùng Đak Song [3]. Tổng khối lượng điểm đã đo trên diện tích này là 16.467, đạt
mật độ trung bình 170 điểm/km2 trên mạng lưới đo cơ bản là 250 x 25
m. Đã lấy 400 mẫu tham số xạ phổ và phân tích khoảng 15 loại đá chủ yếu có mặt
trong vùng. Sơ đồ trường phóng xạ tỷ lệ 1:25.000 đã phản ánh diện lộ của các đá
hệ tầng Phong Hanh bằng một miền trường phóng xạ cường độ thấp Iγ = 10÷27 μR/h
(trung bình 18 μR/h).
4. Các phương pháp điện trở
Phương pháp mặt
cắt đối xứng: Đã đo 6691
điểm mặt cắt điện trở trên các thân khoáng magnesit và đolomit. Mạng lưới đo là
240x10 m, 120x10 m, một số vị trí được đan dày 60x5 m. Thiết bị đo AB = 120÷160
m; MN = 10÷20 m. Từ kết quả đo và xử lý đã thành lập sơ đồ đẳng trị điện trở
suất biểu kiến tỷ lệ 1:5.000 trên diện tích khoảng 3 km2 của khu mỏ.
Trên sơ đồ này có sự phân dị khá rõ ràng về giá trị điện trở suất của các loại
đá có mặt trong vùng, trong đó quặng magnesit ứng với mức trường trung bình
thấp với ρ = 200÷400 ωm.
Phương pháp lưỡng
cực trục liên tục đều: Tổng
số đã đo 15 tuyến dài khoảng 17 km với 893 điểm. Hệ thiết bị đo được áp dụng là
AB = MN = d = 20 m; n = 8. Kết quả xử lý phân tích tài liệu
bằng các phần mềm chuyên dụng cho thấy độ sâu nghiên cứu đạt khoảng 50 m.
Phương pháp này đã giúp xác định cấu trúc uốn nếp và bề mặt trên của các thân khoáng.
Phương pháp đo
sâu điện trở: Đã đo 193 điểm
đo sâu điện trở trên 12 tuyến, với khoảng cách điểm đo là 20 m. Hệ thiết bị đo
AB/2max = 500 m. Các điểm đo sâu tập trung đã xác định rõ phần lộ trên mặt của
các thân khoáng và nghiên cứu chúng theo độ sâu, phục vụ cho công tác khoan.
Việc phân tích các kết quả đo sâu điện trở cho phép lập các mặt cắt địa điện,
làm cơ sở xác định các thân quặng theo chiều sâu. Chính từ các kết quả này đã dự kiến bề dầy các thân khoáng đạt
60-100 m, ở độ sâu lớn hơn 100 m.
Phương pháp điện
từ: Máy đo trường chuyển
TEM57-MK2 là loại máy hiện đại mới được nhập vào Việt
KẾT LUẬN
Mỏ magnesit Kon Queng, Gia Lai được
phát hiện thông qua công tác điều tra địa chất bằng phương pháp địa vật lý. Từ thực tiễn có thể rút ra quy trình phát hiện mỏ
như sau:
- Bay đo từ phổ gamma,
- Tổng hợp xử lý tài liệu bay đo,
- Kiểm tra sơ bộ các dị thường triển vọng,
- Kiểm tra chi tiết các dị thường có triển vọng phát
hiện khoáng sản,
- Điều tra địa chất và đánh giá
khoáng sản ở tỷ lệ từ 1:2.000 đến 1:5.000.
Có thể nói rằng, các phương pháp
địa vật lý đã góp phần quan trọng trong việc xác định các tiền đề và dấu hiệu
tìm kiếm mỏ magnesit Kon Queng. Mặt khác, trong công tác điều tra, đánh giá tiềm năng
quặng hoá, các phương pháp địa vật lý có vai trò hỗ trợ tích cực, đặc biệt là
các phương pháp điện trở.
Mỏ Kon Queng là mỏ có quy mô lớn,
chất lượng tốt. Vấn đề đặt ra là tiếp tục tìm kiếm quặng magnesit ở khu vực nào?
Trên thế giới, mỏ magnesit tinh thể có liên quan với đolomit
thường phân bố thành chuỗi mỏ nằm khá gần nhau trong những cấu trúc nhất định.
Đa số các mỏ lớn đều nằm trong địa tầng PR3-PZ1
có chứa các lớp đolomit [1, 10].
Cho nên cần tiếp tục tìm kiếm magnesit ở các diện tích có các
lớp đá carbonat trong địa tầng Tiền Cambri và Paleozoi sớm ở vùng Trung Trung
Bộ nước ta.
VĂN LIỆU
1. Krupenin M.T., Ellmies R., 2001. Genetic features of sparry magnesite in Proterozoic
carbonate rocks of the
2. Larinsep (Chủ biên), 1987. Báo cáo Kết quả bay đo từ
phổ gamma tỷ lệ 1:25.000 vùng bay Quy Nhơn. Lưu
trữ Địa chất, Hà Nội.
3. Ngô Văn Minh (Chủ biên), 2002. Báo cáo Kết quả kiểm tra chi tiết cụm dị thường địa
vật lý máy bay vùng Đak Song, Gia Lai. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
4. Ngô Văn Minh, 2003. Cấu trúc
địa chất và đặc điểm quặng hoá magnesit Kon Queng, Gia Lai. TC Địa chất, A/279: 30-34. Hà Nội.
5. Ngô Văn Minh (Chủ biên), 2004. Báo cáo Đánh giá triển
vọng magnesit vùng Kon Queng, huyện Kon Chro, tỉnh Gia Lai. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
6. Ngô Văn Minh, 2005. Đặc điểm
địa chất và quy luật phân bố quặng hoá magnesit vùng Kon Queng, tỉnh Gia Lai. Báo cáo HNKH kỷ niệm 60 năm Địa chất Việt
7. Ngô Văn Minh (Chủ biên), 2006. Báo
cáo tổng kết Đề án
Đánh giá tiềm năng magnesit vùng Tây Kon Queng, huyện Kon Chro, tỉnh Gia Lai. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
8. Quách Kim Chữ (Chủ biên), 1998. Báo cáo Kết quả đo vẽ
trọng lực tỷ lệ 1: 50.000 và 1:100.000 vùng Đông Kon Tum. Lưu trữ Địa chất, Hà Nội.
9. Simandl George J. and Hancok
Kirk D., 1990. Geology of the
10. Simandl George J. and Hancok
Kirk D., 1997. Sparry magnesite. Geol. field work 1997, 1998-1:
24E-1 - 24E-3.