BÀN VỀ TUỔI VÀ BỐI CẢNH ĐỊA CHẤT
CỦA HỆ TẦNG THIÊN NHẪN Ở BẮC TRUNG BỘ, VIỆT
SHIGEKI HADA1, TRẦN VĂN TRỊ2,
ĐOÀN NHẬT TRƯỞNG3
1Viện nghiên cứu Giáo dục đại học, Trường
Đại học Tổng hợp Kobe,
Nada-ku, Kobe 657- 8501, Nhật Bản; 2Tổng
hội Địa chất Việt Nam, 6 Phạm
Ngũ Lão, Hà Nội; 3Viện nghiên cứu Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân,
Hà Nội
Tóm tắt: Hệ tầng Thiên Nhẫn phân bố ở
Mặt cắt chuẩn chọn
(lectostratotype) được xác lập từ Yên Vực qua núi Thiên Nhẫn đến Thịnh Hương,
huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Hệ tầng đặc trưng chủ yếu bằng đá phiến silic, đá
phiến sét-silic, đá silic chứa mangan phân lớp mỏng song song, sọc dải, phân
nhịp kiểu turbiđit có bề dầy trên 800 m, chứa phong phú Trùng tia (Radiolaria),
Răng nón (Conodonta), nhưng bị biến dạng, nứt vỡ từng mảnh. Tuy vậy, có thể xác
định một số dạng thuộc các họ Entactiniidae, Albaillellidae có khoảng tuổi
Paleozoi giữa-muộn và Ozarkodina (Spathognathodus) sp., đặc biệt là Palmatolepis
sp. gần gũi với P. glabra lepta có tuổi
Đevon muộn, có thể là Frasni.
Các đá trầm tích và phức
hệ hoá thạch nêu trên phân bố trong bối cảnh địa chất nước sâu, biển khơi trên
sườn lục địa và đại dương thuộc bể Paleotethys Việt-Lào nốí liền sang Thái Lan.
Trong những năm gần đây, Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam hợp tác với
Trường Đại học Tổng hợp Kobe, Nhật Bản, các Công ty CONOCO,
I. MẶT CẮT
Hệ tầng Thiên Nhẫn do Mareichev A.M. và Jamoida
A.I. xác lập vào năm 1965 [trong 1] theo tên của núi Thiên Nhẫn ở ĐB huyện Hương Sơn,
tỉnh Hà Tĩnh, xếp tuổi giả định là Trias sớm-giữa, nhưng không dẫn ra mặt cắt
chuẩn (stratotype). Hệ tầng này phân bố thành một dải hẹp khoảng 3-6 km kéo dài
theo hướng TB-ĐN ở phía tây Thanh Chương, Nam Đàn tỉnh Nghệ An, qua Hương Sơn,
Đức Thọ đến Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh dài trên 150 km với ranh giới hai bên đều là đứt
gãy kiến tạo.
Trong những năm gần đây, chúng tôi đã có những khảo sát bổ sung và xác lập
mặt cắt chuẩn chọn (lectostratotype) dọc con đường từ Yên Vực (18o34’30”
vĩ độ bắc, 105o33’12” kinh độ đông), phía tây đường 15A cũ cắt qua
núi Thiên Nhẫn đến Thịnh Hương (18o33’15” vĩ độ bắc, 105o31’45”
kinh độ đông), tả ngạn sông Ngàn Phố ở huyện Hương Sơn, tỉnh Hà Tĩnh. Hệ tầng
này bị nhiều đứt gãy chia cắt và bị uốn nếp, biến dạng phức tạp, cho nên rất khó
phân định các phần thấp nhất và cao nhất của mặt cắt. Tuy nhiên theo thế nằm của
đá trầm tích này và thành phần thạch học của chúng có thể sơ bộ chia ra 3 phần
như sau:
Phần dưới: Đá phiến sét-silic, đá phiến silic, đá bùn silic
phân lớp mỏng, song song, xen kẽ dạng nhịp dày vài centimét đến vài chục
centimét, màu xám sáng, trắng đục; khi phong hoá có màu tím nâu, vàng sẫm. Trong
phần này, đôi nơi còn gặp các
lớp mỏng (4-7 cm) bột kết, cát kết hạt mịn. Bề dày trên 200 m.
Phần giữa: Chủ yếu là đá phiến silic, đá silic xen kẽ dạng nhịp
với các lớp đá phiến sét-silic phân lớp rất mỏng, song song, màu xám sẫm, xám
sáng, thường bị vỡ thành các mảnh vụn sắc cạnh hoặc tấm mỏng nhỏ. Đặc biệt nhiều
nơi còn gặp những lớp dăm kết silic, sét-silic hoặc những biểu hiện mangan và
oxyt sắt-mangan. Bề dày khoảng 350 m.
Phần trên: Đá phiến sét-silic màu xám lục xen kẽ dạng nhịp với
đá bùn silic, đá silic màu trắng đục, hồng nhạt cấu tạo sọc dải song song. Ngoài
ra còn gặp lớp silic-vôi xám sẫm dày 30-40 cm, những biểu hiện mangan và dăm kết
silic. Bề dày trên 250 m.
Bề dày tổng cộng của hệ tầng ở mặt cắt này là 800 m.
II. CƠ SỞ CỔ SINH VẬT HỌC
Hoá thạch trong hệ tầng Thiên Nhẫn mới được phát hiện trong những năm gần
đây, hầu hết bị biến dạng, tái kết tinh và vỡ ra từng mảnh nhỏ, trong đó Trùng
tia rất phổ biến và một ít Răng nón khó có khả năng xác định đến loài; tuy vậy,
một số dạng có thể xác định được.
Mẫu 020818 (theo GPS: 18o30’50” vĩ độ bắc, 105o34’10”
kinh độ đông) là đá phiến silic thu thập trong vết lộ ở vách phía nam đường 8 từ
vùng cầu Linh Cảm đến Châu Sơn, Châu Lĩnh, xã Tùng Ảnh, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà
Tĩnh, chứa Răng nón: Ozarkodina
(Spathognathodus) sp. (Ảnh 1, 2, 3, 4 và 6) có tuổi từ Silur muộn đến
Carbon, đặc biệt mẫu 1 giống với Ozarkodina semialternans có tuổi Đevon
giữa-muộn. Ảnh 5 là Palmatolepis sp. có nền (platform) rộng, không đối
xứng và răng chính bị cong vẫn được bảo tồn và về hình thái; nó giống với Palmatolepis glabra lepta
có trong Đevon muộn (Bản ảnh 1). Ngoài ra còn có rất nhiều di tích Trùng tia
nhưng bảo tồn rất kém.
Mẫu 020818-8 (theo GPS: 18o30’50” vĩ độ bắc, 105o34’25”
kinh độ đông) cách điểm lộ 020818-4 gần 500 m về phía đông và cách đường 8 về
phía nam khoảng 300 m, trên vách đá phiến silic ở sườn đồi cũng chứa các di tích
Răng nón và đặc biệt rất nhiều di tích Trùng tia, nhưng cũng bảo tồn không tốt
không thể xác định được giống, loài (Bản ảnh 2).
Cũng tại đoạn đường này, Công ty CONOCO Inc. Hoa Kỳ hợp tác với Cục Địa
chất và Khoáng sản Việt Nam thu thập mẫu đá silic 12/15/1 ở vách đường (theo
GPS: 18o31’ vĩ độ bắc, 105o35’ kinh độ đông) chứa rất
phong phú các di tích Trùng tia bảo tồn rất kém, tuy nhiên Stanley A. Kling,
California, Hoa Kỳ xác định là thuộc họ Entactiniidae (có khoảng tuổi Đevon đến
Permi) và một vài dạng có thể thuộc họ Albaillidae (Mississippi đến Permi) và
tuổi có khả năng là Paleozoi giữa-muộn.
III. QUAN HỆ ĐỊA CHẤT
Các ranh giới dưới và trên của hệ tầng Thiên Nhẫn chưa nơi nào quan sát
được do tiếp xúc với các hệ tầng xung quanh đều là đứt gãy phá huỷ. Tuy nhiên,
theo Jamoida A. I. và Mareichev A.M [trong 1], chỉ có một vài
nơi như ở phía tây làng Vũ Liệt có thể giả định rằng có thế nằm bình thường của
đá phiến Lađin thuộc hệ tầng Quy Lăng nằm lên trên hệ tầng Thiên Nhẫn. Ngoài ra
ở phía bắc và đông điểm cao 497 m, hệ tầng Thiên Nhẫn nằm không chỉnh hợp trên
cát kết và đá phiến của hệ tầng Sông Cả (O3-S sc),
còn ở phía nam và tây bắc thị trấn Kỳ
Anh bị các thành tạo trầm tích - nguồn núi lửa Jura phủ không chỉnh hợp rõ ràng
lên trên.
IV. BỐI CẢNH ĐỊA CHẤT
Thành phần thạch học của hệ tầng này chủ yếu là đá phiến silic phân lớp
mỏng, xen kẽ dạng nhịp với đá phiến
sét-silic, đá bùn silic cấu tạo sọc dải, song song, màu xám sẫm, trắng đục, khi
phong hoá cho màu đỏ hồng, vàng nhạt, xám lục sặc sỡ và đôi nơi còn gặp những
lớp có biểu hiện hyđroxyt mangan xâm nhiễm hoặc dạng kết vón, dạng mắt nhỏ
(manganese nodule). Ngoài ra còn gặp những lớp dăm kết silic kiểu xáo trộn trầm
tích đồng sinh (sedimentary melange) và lớp mỏng thấu kính đá phiến silic–vôi.
Các đá trầm tích này tạo thành một phức hệ flysh turbiđit chứa Trùng tia và
Răng nón trong môi trường nước sâu ở vùng sườn lục địa đến biển khơi đại dương
Paleotethys Việt-Lào nối tiếp với Paleotethys nằm giữa các khối Shan-Thái và
Đông Dương -
V. TUỔI VÀ ĐỐI SÁNH ĐỊA CHẤT
Hệ tầng Thiên Nhẫn lâu nay vẫn được coi là một tầng câm, cho nên các tác
giả đã xếp vào nhiều tuổi khác nhau như Silur-Đevon [2, 8], Trias [7], Carbon [5, 9].
Việc phát hiện các di tích Trùng tia và Răng nón rất
phong phú trong hệ tầng này tuy đã bị biến dạng, phá huỷ mạnh, nhưng vẫn có thể
xác định được các dạng Ozarkodina
(Spathognathodus) sp., O. semialternans. Và đặc biệt là Palmatolepis
sp. về hình thái gần gũi với Palmatolepis glabra lepta có tuổi Đevon muộn, có thể là Frasni.
Về phía tây nam vùng nghiên cứu thuộc huyện Tuyên Hoá, tỉnh Quảng Bình, hệ
tầng Ngọc Lâm cũng gồm các đá phiến silic, đá phiến sét–silic phân lớp mỏng, sọc
dải chứa các lớp mỏng mangan và các di tích Palmatolepis subrecta, Calvinaria cracowiensis,
C. cf. megistanus có tuổi Frasni nằm chỉnh hợp trên hệ tầng Động
Thờ (D2gv-D3fr
đt) và nằm dưới hệ tầng Xóm Nha (D3 xn) [6]. Còn ở phía bắc, trên các vùng làng Cốc, Phùng Giao, Lương Ngọc thuộc tỉnh Thanh Hoá, cũng đã
thấy các tập đá phiến silic xen kẽ với đá phiến sét, silic chứa mangan được xếp
giả định vào Permi muộn - Trias sớm hoặc Đevon muộn [4]. Với những đặc tính về trầm tích luận và cổ sinh vật nêu trên có thể đối
sánh hệ tầng Ngọc Lâm và các tập đá phiến silic chứa mangan ở Thanh Hoá tương
đồng với hệ tầng Thiên Nhẫn.
Những tài liệu mới nêu trên là một phần của
kết quả hợp tác khoa học giữa Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam với trường Đại
học Tổng hợp Kobe, Nhật Bản, các Công ty CO
VĂN LIỆU
1. Đovjikov A. E. (Chủ biên), 1965.
2.
3.
4. Lê Văn Cự (Chủ biên), 1980. Khoáng sản miền Bắc Việt
5. Nguyễn Văn Hoành (Chủ biên), 1994. Kết quả hiệu đính Bản đồ địa chất tỷ lệ 1:200.000
loạt tờ Trường Sơn. Bản đồ Địa chất, tr.
83-93. Liên đoàn BĐĐC MB, Hà Nội.
6. Phạm Huy Thông,
7. Trần Tính (Chủ biên), 1996. Địa chất và Khoáng sản tờ Hà Tĩnh -
8. Trần Văn Trị (Chủ biên), 1977. Địa chất Việt
9. Vũ Khúc
(Chủ biên),
2000. Sách tra cứu các phân vị địa
chất Việt