TAI BIẾN XÓI LỞ - BỒI TỤ LÒNG SÔNG TIỀN ĐOẠN TÂN CHÂU - HỒNG NGỰ TỪ GÓC NHÌN CỦA ĐỊA MẠO HỌC

HÀ QUANG HẢI

Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Tóm tắt: Cường độ xói lở bờ sông Tiền đoạn Tân Châu - Hồng Ngự thuộc loại mạnh (5-10 m/năm) đến rất mạnh (10-30 m/năm). Bồi tụ tạo doi cát ven và doi cát giữa lòng, sự dịch chuyển các doi cát theo kiểu đảo trôi với tốc độ 100-200 m/năm, hoặc sự chuyển đổi cơ chế hoạt động từ xói lở bờ sang bồi tụ lòng là hiện tượng địa mạo động lực nổi bật của sông Tiền đoạn Tân Châu - Hồng Ngự. Các doi cát ven và các đảo trôi lệch về một phía bờ đã tạo thành những mỏ hàn tự nhiên làm gia tăng cường độ xói lở bờ đối diện.

Sự hình thành các vách xói lở cùng với sự phát triển các doi cát ven là biểu hiện hoạt động uốn khúc của lòng sông, một tiến trình phổ biến và tất yếu của các sông trên vùng đồng bằng ngập lụt. Cấu trúc bờ bằng các tầng đất yếu và địa hình đồng bằng bằng phẳng là yếu tố thuận lợi để khúc uốn sông Tiền quét trên một diện rộng, với đai uốn khúc có thể hình thành trên chiều rộng 5-10 km.

Hoạt động khai thác cát hiện tại tác động không đáng kể tới hình thái lòng sông. Sự bồi tụ mạnh các doi cát lòng và ven đã hình thành mỏ cát lòng sông có trữ lượng lớn và chất lượng tốt nhất ở Nam Bộ. Cần thiết phải có một chương trình điều tra, quy hoạch toàn diện mỏ cát này, sao cho việc khai thác cát vừa phục vụ xây dựng các công trình lâu dài, vừa có tác dụng khơi thông dòng chảy, hạn chế tiến trình xói lở - bồi tụ. Chính sách khai thác bãi bồi cho sản xuất nông nghiệp hiện nay của các địa phương là không hợp lý, bởi các doi cát di chuyển liên tục, đồng thời chúng là nguyên nhân gia tăng xói lở bờ.

I. GIỚI THIỆU


Trên hai thập niên trở lại đây, sự xói lở bờ sông Tiền và sông Hậu xảy ra với quy mô lớn và tần suất cao. Những điểm xói lở mạnh là các đoạn Tân Châu, Hồng Ngự, Sa Đéc, bến phà Mỹ Thuận (thuộc bờ sông Tiền), Khánh An, thành phố Long Xuyên, thành phố Cần Thơ (thuộc bờ sông Hậu). Xói lở hàng năm đã cuốn đi ở mỗi đoạn hàng trăm hécta đất canh tác, phá hủy nhiều nhà dân và trường học, bệnh viện, đồng thời đã cướp đi sinh mạng của dân cư sinh sống ven sông. Điển hình là ở Tân Châu, lở đất vào tháng 2/1988 làm chết 22 người (có 7 người mất tích), tháng 4/1992 ở Hồng Ngự làm 10 người chết [2, 4].

Lâu nay, có nhiều công trình nghiên cứu về nguyên nhân gây xói lở bờ sông và đề xuất các giải pháp phòng tránh tại các vị trí xung yếu [1-5]. Hiện một số điểm đã được gia cố bằng kè bê tông (Sa Đéc, Tân Châu) với chi phí hàng chục tỉ đồng mỗi điểm.

Bài báo trình bày hiện tượng xói lở - bồi tụ lòng sông Tiền thuộc đoạn Tân Châu - Hồng Ngự từ góc nhìn của địa mạo học, nhằm góp một phần cơ sở khoa học giúp các nhà quản lý có tầm nhìn xa hơn trong quy hoạch phát triển kinh tế, có thái độ ứng xử mềm dẻo với xói lở bờ sông, một hiện tượng đang được xem như là tai biến tự nhiên hàng đầu ở đồng bằng Cửu Long.

II. ĐẶC ĐIỂM TỰ NHIÊN

1. Địa mạo khu vực

Vùng Tân Châu - Hồng Ngự là một phần của đồng bằng Cửu Long rộng lớn. Căn cứ vào đặc điểm hình thái, sự biểu hiện của các khúc uốn và các doi cát, có thể xác định đồng bằng này phân bố từ Phnompenh, Campuchia qua cầu Mỹ Thuận (sông Tiền) đến Cần Thơ (sông Hậu). Bề mặt đồng bằng khá bằng phẳng, cao trung bình 3-4 m, dải đê tự nhiên ven sông cao hơn đồng bằng trung bình 1 m. Đồng bằng hàng năm bị ngập lụt, nơi ngập nông là 0,5 m, nơi ngập sâu tới 3 m. Sự dịch chuyển khúc uốn là đặc trưng địa mạo động lực của đồng bằng này. Các dấu vết uốn khúc cho thấy bán kính khúc uốn của sông Tiền và sông Hậu khá lớn, tại Sa Đéc là 2,5 km, Hồng Ngự là 5 km, Khánh An là 3 km, Long Xuyên là 2,5 km. Địa hình bằng phẳng của đồng bằng và vật liệu cấu tạo bờ chủ yếu với các tầng đất yếu, là tiền đề cho các đai uốn khúc mở rộng.

2. Hình thái lòng sông

Sông Tiền ở đoạn Tân Châu - Hồng Ngự kéo dài 29,3 km từ biên giới với Campuchia tới cuối cù lao Long Khánh. Dựa vào đặc điểm hình thái dòng chảy, có thể phân thành hai đoạn.

Đoạn 1: từ biên giới với Campuchia tới ấp Long Thị B, dài 13,6 km, sông chảy theo hướng N-ĐN. Lòng sông rộng trung bình 1,7 km, rộng nhất 2,6 km, hẹp nhất 0,6 km. Đoạn này có nhiều cù lao, là các doi cát ven và doi cát giữa lòng di động liên tục về hạ lưu. Các lạch sâu biến động phức tạp, gây xói lở bờ sông ở cả phía An Giang và phía Đồng Tháp.

Đoạn 2: từ ấp Long Thị B đến cuối cù lao Long Khánh, sông Tiền phân thành hai nhánh: nhánh bắc và nhánh nam cù lao Long Khánh (gọi tắt là nhánh bắc và nhánh nam).

Nhánh bắc chảy hướng T-Đ rồi chuyển về N-ĐN từ thị trấn Hồng Ngự, dài 15,3 km, rộng trung bình 1,2 km, rộng nhất 1,6 km, hẹp nhất 0,5 km. Nhánh này trước đây bị xói lở mạnh ở phía bờ trái, nay lòng sông đang trong quá trình bồi tụ mạnh, các tàu trọng tải lớn (khoảng 3.000 tấn) không thể lưu thông được.

Nhánh nam chảy theo hướng ĐN, dài 12,3 km, rộng 0,6-0,8 km. Lòng sông trước đây bồi tụ mạnh với sự hiện diện của các cù lao, nay bị xói lở sâu nên đã trở thành tuyến giao thông thủy thay cho nhánh bắc.

Lòng sông đoạn 1 và nhánh bắc bị lấp đầy bởi các trầm tích lòng và bãi bồi. Quá trình bồi tụ hình thành các doi cát có chiều dày và hình dạng thay đổi liên tục do sự bổ sung vật liệu theo dòng lũ hàng năm; đây chính là nguồn vật liệu xây dựng quý giá của tỉnh Đồng Tháp và An Giang.

3. Cấu trúc bờ sông

Cấu tạo đồng bằng ngập lụt thuộc sông Tiền và sông Hậu nói chung và vùng Tân Châu - Hồng Ngự nói riêng chủ yếu là các bồi tích trẻ, hình thành vào giai đoạn biển lùi Holocen muộn. Tài liệu tổng hợp cho thấy những lớp cát, lớp đất dính như á sét, sét, bùn cấu tạo phổ biến ở bờ sông là một trong các yếu tố gây xói lở bờ sông [3].


Hình 1. Địa tầng tổng hợp bờ sông ở đoạn Tân Châu - Hồng Ngự (theo [3])


4. Dòng chảy

Hàng năm vào mùa lũ, sông Tiền nhận lưu lượng nước rất lớn từ thượng nguồn và lưu lượng bổ sung không nhỏ từ vùng Đồng Tháp Mười. Mực nước sông Tiền thay đổi lớn giữa mùa kiệt và mùa lũ. Hàng năm, thường vào cuối tháng 8, nước sông từ từ dâng cao, đến tháng 10, mực nước đạt cao nhất, sau đó giảm dần đến tháng 12. Do phân bố trong vùng đồng bằng ngập lụt nên mực nước sông từ Tân Châu tới Mỹ Thuận thay đổi mạnh. Sự thay đổi mực nước đồng thời cũng là sự thay đổi lưu lượng và tốc độ dòng chảy. Chênh lệch độ cao giữa mùa kiệt và mùa lũ ở Tân Châu - Hồng Ngự xấp xỉ 2,0 m. Vận tốc dòng chảy trong mùa lũ của sông Tiền ở Tân Châu là 2,70 m/s, ở Mỹ Thuận là 2,45 m/s, vượt gấp bốn lần vận tốc cho phép không xói của lòng sông và vách bờ. Ngay trong mùa kiệt, vận tốc dòng chảy cũng gấp 2,5 lần vận tốc cho phép không xói lở: ở Sa Đéc là 1,1 m/s, ở Mỹ Thuận là 1,2 m/s [2].

III. XÓI LỞ VÀ BỒI TỤ

1. Đoạn 1 (từ biên giới với Campuchia tới ấp Long Thị B)

a) Xói lở bờ

Xói lở bờ sông Tiền diễn ra rất mạnh, có sự luân phiên giữa bờ phải (An Giang) và bờ trái (Đồng Tháp). Tài liệu phân tích tư liệu viễn thám giai đoạn 1990-2001 của tác giả cho thấy: bờ trái xói lở tăng dần từ Ấp 2 đến Ấp 3, xã Thường Phước trên chiều dài 5,5 km. Cường độ xói lở trung bình 30 m/năm. Xói lở lớn nhất ở bờ sông đoạn Ấp 3, xã Thường Phước 2 (nơi dòng chảy chuyển hướng) với cường độ 55 m/năm.

Bờ phải xói lở liên tục với chiều dài 11,6 km từ biên giới Campuchia tới cù lao Cỏ Gáng (1, Hình 2a). Cường độ xói lở trung bình 10-15 m/năm, lớn nhất là đoạn ấp Tân Thạnh, xã Vĩnh Hòa và bờ cù lao Cỏ Gáng. Cường độ xói lở ở hai điểm này tới 30 m/năm.

b) Bồi tụ lòng

Hoạt động bồi tụ diễn ra rất mạnh. Các khảo sát thực tế và tài liệu phân tích ảnh, bản đồ như sau:

1) Ảnh vệ tinh năm 1990 (Hình 2b):

Ở bờ trái có hai doi cát ven, đó là Cồn Cỏ (phân bố từ Campuchia), dài 3,3 km, rộng 0,44 km và cồn Chính Sách, dài 2,55 km, rộng 0,65 km. Trên bản đồ địa hình 1/50.000, tờ 60304, do Cục Đo đạc và Bản đồ Nhà nước phát hành năm 1978, chưa thấy xuất hiện cồn Chính Sách (Hình 2).

Cù lao Cồn Tào là kiểu doi cát giữa lòng, hơi lệch về bờ An Giang. Cồn Tào thực chất là hai doi cát nối tiếp nhau có chiều dài 2,6 km, rộng 0,5 km. So sánh với bản đồ năm 1978, ta thấy Cồn Tào di chuyển về phía nam trong khoảng 12 năm (từ 1978 đến 1990) là 1,2 km. Sự dịch chuyển cồn Tào là hiện tượng “đảo trôi”. Đó là hoạt động xói lở đầu cồn và bồi tụ cuối cồn. Cù lao Cỏ Gáng (2, Hình 2b) bồi tụ tạo nên các doi cát ven kéo dài về phía đông nam.

2) Ảnh vệ tinh năm 2001 (Hình 3a):

Hình thái các doi cát đã biến đổi đáng kể. Cồn Cỏ đã biến mất, cồn Chính Sách di chuyển xuống phía nam trở thành doi cát giữa dòng, xuất hiện cồn An Lạc là kiểu doi cát ven. Trong 11 năm (1990-2001), cồn Chính Sách trôi về hạ lưu 1,1 km.

Cồn Tào di chuyển nhanh hơn về phía đông nam, biến dạng đáng kể về hình thái và nay gọi là cồn Béo. Phần nhô trên mặt nước có dạng mũi tên, dài 2,24 km, rộng trung bình 0,13 km. Trong 11 năm (1990-2001), cồn Tào dịch chuyển (thành cồn Béo) xuống phía đông nam 2,3 km.


 


 

 

Hình 2. a- Bản đồ địa hình năm 1978; b- Ảnh Landsat 1990

 


Cồn Cỏ Gáng nhô khỏi mặt nước do các doi cát ven nối với nhau. Vách bờ phía bắc cồn Cỏ Gáng bị xói lở với vạch bờ sắc nét trên ảnh vệ tinh. Dễ dàng nhận thấy cồn Cỏ Gáng và cồn Béo như những mỏ hàn tự nhiên gắn bên bờ phải sông Tiền thuộc xã Tân An hướng dòng chảy về phía đông nam, đây là nguyên nhân trực tiếp gây xói lở mạnh bờ trái tại xã Thường Phước 2 trong những năm qua.

 

Hình 3. a- Ảnh Landsat 2001;

 

 

b- Ảnh Keyhole (Google Earth) 2004


3) Ảnh vệ tinh 2004 (Hình 3b)

Các doi cát tiếp tục biến động, cồn An Lạc mở rộng, cồn Béo dịch chuyển dần về phía bờ trái ở Thường Phước 2.

Sự biến động của các doi cát đoạn 1 đã được quan sát từ năm 1995, khi tiến hành thăm dò cát lòng sông. Ngoài các doi cát nhô cao, còn xác định được doi cát ngầm phân bố giữa dòng, kéo dài từ Campuchia sang. Đợt khảo sát tháng 10/2006 cho thấy doi cát này đã nhô trên mặt nước, dân địa phương gọi là cồn Mới. Doi đó hiện là mỏ cát Vĩnh Xương và Thường Phước 1 (Hình 4).


 

Hình 4. Các doi cát xác định trong đợt khảo sát năm 1995

Mặt cắt ngang qua cồn Mới cho thấy đây là doi cát giữa lòng, trong vòng 8 năm (1995-2002), trầm tích lấp đỉnh doi dày 6-7 m (Hình 4, 14). Mặt cắt ngang cồn Chính Sách (Hình 5, 14) thể hiện doi cát ven (năm 1995) rồi chuyển thành doi cát giữa lòng (năm 2004).

Hình 5. a- Mặt cắt ngang qua cồn Mới

b- Mặt cắt ngang qua Cồn Chính Sách

 

2. Đoạn 2 (từ ấp Long Thị B đến cuối cù lao Long Khánh)

Chuyển tiếp giữa đoạn 1 và đoạn 2 là hố xoáy sâu Tân Châu. Hố xoáy Tân Châu chỗ sâu nhất tới 45 m có dạng kéo dài, phân bố hơi lệch về phía bờ An Giang. Qua hố xoáy Tân Châu dòng chảy phân thành hai nhánh (nhánh Bắc và Nam cù lao Long Khánh) có đặc điểm xói lở và bồi tụ luân phiên nhau theo thời gian

­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­­_____________________

* Tất cả các mặt cắt ngang theo hướng từ bờ phải sang bờ trái (tác giả)

a) Xói lở bờ

1) Nhánh bắcBờ trái: trước năm 2000 (1991-1999) chủ yếu xói lở. Những đoạn sông bị xói lở mạnh thuộc các xã Thường Thới Tiền, Thường Lạc và thị trấn Hồng Ngự. Xói lở bờ ở Thường Thới Tiền trung bình là 10 m/năm (trong thời gian 1975-1995) trên chiều dài 2,35 km. Ở Thường Lạc, xói lở dài 2,35 km, lở trung bình 10-15 m/năm. Ở thị trấn Hồng Ngự, xói lở kéo dài 600 m, sạt lở 20 m (ngày 6/4/1992 xói lở nhấn chìm trụ sở Ủy ban huyện, Nhà khách, Kho bạc). Tại đây, hố xoáy sâu 40 m hình thành do sự hội lưu của rạch Hồng Ngự với sông Tiền [4]. Từ năm 2000 tới nay, xói lở bờ trái nhánh bắc đã ngừng lại do lòng sông xảy ra quá trình bồi tụ mạnh.

Bờ phải: trước năm 2000 xói lở mạnh nhất ở khu vực ấp Long Thị B và thị trấn Tân Châu. Cường độ xói lở trung bình là 6 m/năm trên chiều dài 2,5 km. Xói lở xẩy ra theo kiểu sạt lở khối do hình thành hàm ếch trong lớp cát [3], có năm sạt lở tới 20-25 m [2]. Sự hình thành hố xoáy sâu 45 m lệch về bờ Tân Châu là nguyên nhân trực tiếp gây xói lở. Sau khi có kè đá (hoàn thành vào năm 2003), bờ sông tại thị trấn Tân Châu đã được bảo vệ (Hình 6), nhưng xói lở vẫn diễn ra mạnh mẽ tại ấp Long Thị B, nơi chưa có kè đá (Hình 7).

 

Hình 6. Kè đá chống sạt lở tại thị trấn Tân Châu. Ảnh Hà Quang Hải 10/2006

 

Hình 7. Xói lở vẫn tiếp diễn ở ấp Long Thị B, nơi không có kè đá.

2) Nhánh nam

Trước năm 2000, đáy sông chủ yếu bồi tụ, sau năm 2000 xói lở sâu phát triển, vách bờ xói lở. Xói lở mạnh ở khu vực đầu cù lao Long Khánh (Hình 8) và bờ phải thuộc xã Long Thuận (Hình 9) với cường độ trung bình 5-10 m/năm. Do xói lở sâu mà từ năm 2000 nhánh sông này trở thành tuyến đường thủy cho các tàu có trọng tải lớn.


Hình 8. Sạt lở tại đầu cù lao Long Khánh.
Ảnh Hà Quang Hải 10/2006

Hình 9. Sạt lở tại ấp Long Thạnh 2, xã Long Thuận. Ảnh Hà Quang Hải 10/20066


b) Bồi tụ

1) Nhánh bắc

Một bãi bồi tụ ngầm rất lớn ở lòng sông phía bắc đầu cù lao Long Khánh đã quan sát được từ năm 1995. Nay bãi ngầm này nhô lên mặt nước, có thể quan sát trên ảnh vệ tinh năm 2001 và 2004.

Doi cát ven ở bờ phải thuộc ấp Long Phước hình thành năm 1990 (Hình 10a) đã phát triển thành mỏ hàn tự nhiên vào năm 2001 (Hình 10b). Một doi cát ven khác ở bờ cù lao Chà Và cũng quan sát được trên ảnh năm 2001 (Hình 10b). Những năm sau, hai doi cát ven này đã nối lại với nhau, mở rộng diện tích và gần như chắn ngang sông Tiền (Hình 11). Dễ dàng nhận thấy cường độ xói lở mạnh ở Thường Thới Tiền, Thường Lạc và thị trấn Hồng Ngự trước năm 2000 là do tác động trực tiếp của các doi cát ven (mỏ hàn tự nhiên) ở ấp Long Phước và cù lao Chà Và.


Hình 10: a- Ảnh Landsat 1990

b- Ảnh Landsat 2001


2) Nhánh nam

Tư liệu bản đồ, ảnh vệ tinh (Hình 10a) và điều tra thực tế cho thấy trước năm 2000 lòng sông chủ yếu bồi tụ. Các doi cát ven và giữa lòng phân bố rộng, các tàu trọng tải lớn không qua được. Từ năm 2000 đến nay ở lòng sông nhánh này xói lở gia tăng thay vì bồi tụ.


Hình 11: a- Ảnh Keyhole
(Google Earth) 2004

b- Bãi bồi ấp Long Phước
 chắn ngang sông Tiền


IV. VẤN ĐỀ KHAI THÁC CÁT

1. Các mỏ cát đang khai thác

Từ năm 1995, các mỏ cát lòng sông ở đoạn 1 đã được tiến hành thăm dò và khai thác bao gồm mỏ Vĩnh Xương, Tân An (Tân Châu, An Giang), mỏ Thường Phước 1, Thường Phước 2 (Hồng Ngự, Đồng Tháp). Năm 2005 và 2006, các mỏ cát này đã được thăm dò nâng cấp. Tổng trữ lượng cấp C1 của các mỏ đã thăm dò xấp xỉ 18 triệu m3 trên diện tích khoảng 250 ha.

Khi xem xét các tài liệu thăm dò mỏ cát lòng sông khu vực này, chúng tôi thấy có hai nội dung cần được xem xét: 1) Độ sâu thăm dò trong khoảng 12-17 m (bề dày lớp cát trung bình là 2-6 m) chưa khống chế hết bề dày thân khoáng; 2) Thành phần cấp hạt chủ yếu hạt mịn đến vừa là mới đánh giá vật liệu nguồn gốc bãi bồi do các dòng ngang mang đến.

Phân tích hình thái dòng chảy và tham khảo cột địa tầng khu vực cũng như một số lỗ khoan tại các mỏ đang khai thác, có thể dự đoán tầng cát lòng sông (cát hạt thô) phân bố tới độ sâu 25-30 m. Bề dày lớp cát hạt vừa đến thô có thể tới 10 m. Nếu như vậy, trữ lượng cát tại các mỏ có thể lớn hơn nhiều trữ lượng tính toán hiện nay.

2. Khai thác cát làm biến động lòng sông ?

Hoạt động bồi tụ lòng sông đã hình thành các mỏ cát rất lớn. Sự bồi tụ lòng và dịch chuyển các doi cát như đã trình bày ở trên cho thấy khối lượng khai thác cát tại các mỏ trong những năm qua là không đáng kể so với lượng cát bổ sung hàng năm từ thượng nguồn. Để đánh giá sự biến động lòng sông do khai thác cát, chúng tôi lấy ví dụ hoạt động khai thác cát tại mỏ Tân An [6].

Mỏ cát Tân An (Hình 12) do Doanh nghiệp Tư nhân Vĩnh An (An Giang) làm chủ đầu tư. Mỏ này được cấp phép khai thác từ năm 2003, sản lượng khai thác hàng năm là 200.000 m3, diện tích mỏ là 91 ha, độ sâu khai thác -15 m, khoảng cách xa bờ 600 m.

Tài liệu quan trắc tháng 12/2004 và tháng 03/2006 (Bảng 1) cho thấy lượng cát ra khỏi mỏ tại khối 8a C1 và 8b C1 là 236 m3 (tương ứng với khối lượng 220.000 m3 Doanh nghiệp tư nhân Vĩnh An khai thác trong 13 tháng). Trong khi đó lượng cát tăng thêm vào mỏ tại khối 6C1 và 7C1 gần 170.000 m3.


Bảng 1. Khối lượng cát mỏ Tân An tháng 12/2004 và tháng 3/2006 (tính đến -15 m)

Tên khối

Trữ lượng tháng 12/2004 (m3)

Trữ lượng tháng 3/2006 (m3)

Nhận xét

6C1

351.329

247.192

Tăng 104.137m3

7C1

430.529

494.761

Tăng 64.232m3

8aC1

2.096.690

2.019.742

Giảm 76.948m3

8bC1

447.060

287.323

Giảm 159.744m3


Mặc dù mỏ Tân An phân bố ở cuối đoạn 1, nhưng lượng trầm tích bổ sung vào mỏ hàng năm rất đáng kể (170.000 m3/năm). Khai thác tập trung tại khối 8a và 8b, nhưng lòng dẫn thay đổi không nhiều, lạch sâu hầu như chưa có sự dịch chuyển về giữa sông. Phần sườn ngầm Cồn Béo có hạ thấp hơn (Hình 13a, b,c) nhưng các mặt cắt ngang đều trơn tru, không có các hố xoáy sâu, điều này cho thấy hoạt động khai thác được kiểm soát tốt hoặc quá trình bồi thường trầm tích lòng nhanh chóng.


 

 

Hình 12. Bình đồ khu mỏ Tân An,
Tân Châu, An Giang

Hình 13a. Mặt cắt ngang MC03a
tại mỏ Tân An

 

 

 

Hình 13b. Mặt cắt ngang MC03b
 tại mỏ Tân An

Hình 13c. Mặt cắt ngang MC03c
tại mỏ Tân An

 


V. NHẬN XÉT VÀ KIẾN NGHỊ

So với các điểm xói lở khác ở dọc sông Tiền và sông Hậu, cường độ xói lở bờ đoạn Tân Châu - Hồng Ngự ở sông Tiền thuộc loại mạnh nhất. Xói lở phát triển hai bên bờ sông theo kiểu so le, những đoạn xói lở rất mạnh có cường độ trung bình 10-30 m/năm thuộc xã Vĩnh Hòa, xã Tân An, ấp Long Thạnh B (An Giang) và xã Thường Phước 2 (Đồng Tháp). Những đoạn mới bị xói lở (từ sau năm 2000) với cường độ 5-10 m/năm thuộc nhánh nam cù lao Long Khánh bao gồm đoạn đầu cù lao và bờ phải thuộc xã Long Thuận.

Bồi tụ tạo doi cát ven và doi cát giữa lòng, sự dịch chuyển các doi cát (đảo trôi) về phía hạ lưu ở đoạn 1 với tốc độ 100-200 m/năm (cồn Chính Sách, cồn Tào, cồn Béo), hoặc sự chuyển đổi từ xói lở bờ ở đoạn 2 (nhánh bắc cù lao Long Khánh) sang tích tụ lòng là hiện tượng địa mạo động lực nổi bật của sông Tiền đoạn Tân Châu - Hồng Ngự. Thực chất các doi cát ven và các “đảo trôi” lệch về một phía bờ đã tạo thành những mỏ hàn tự nhiên làm gia tăng cường độ xói lở các bờ đối diện.

Hiện tại, hoạt động khai thác cát lòng sông Tiền đoạn Tân Châu - Hồng Ngự không thấm tháp gì so với lượng trầm tích bổ sung hàng năm vào lòng sông ở đây. Sản lượng khai thác mỗi năm tại 4 mỏ khoảng 1.000.000 m3, trong khi lượng cát bổ sung là hàng chục triệu m3. Hoạt động khai thác cát tại các mỏ tác động không nhiều tới hình thái lòng sông.


Hình 14. Bản đồ địa mạo động lực đoạn sông Tiền ở Tân Châu - Hồng Ngự


Sự hình thành các vách xói lở cùng với sự phát triển các doi cát ven là biểu hiện hoạt động uốn khúc của lòng sông, một tiến trình phổ biến và tất yếu của lòng sông trên vùng đồng bằng ngập lụt. Cấu trúc bờ bằng các tầng đất yếu và địa hình đồng bằng bằng phẳng là yếu tố thuận lợi để khúc uốn sông Tiền quét trên một diện rộng, đai uốn khúc có thể hình thành trên chiều rộng 5-10 km.

Kè bê tông ở một vài đoạn sông hiện nay chỉ là giải pháp trước mắt, với hoạt động uốn khúc trên qui mô rộng như sông Tiền thì các đoạn kè dài 1 km như ở Tân Châu chỉ có ý nghĩa làm chậm tiến trình xói lở. Đôi khi các bờ kè lại là nguyên nhân gây xói lở các đoạn bờ khác, như trường hợp kè Tân Châu, sau khi hoàn thành đã gia tăng xói lở đầu cù lao Long Khánh. Như vậy, giải pháp lâu dài khi qui hoạch phát triển các trung tâm kinh tế phải xác định được các vị trí nằm ngoài đai uốn khúc.

Mỏ cát lòng sông đoạn Tân Châu - Hồng Ngự nên được xem là mỏ cát có trữ lượng lớn và chất lượng tốt nhất ở Nam Bộ. Cần thiết phải có một chương trình điều tra, qui hoạch toàn diện mỏ cát này, sao cho việc khai thác cát vừa phục vụ xây dựng các công trình lâu dài, vừa có tác dụng khơi thông dòng chảy, hạn chế quá trình xói lở - bồi tụ. Chính sách khai thác bãi bồi cho sản xuất nông nghiệp hiện nay của các địa phương là không hợp lý, bởi các bãi bồi di chuyển liên tục, đồng thời chúng là nguyên nhân gia tăng xói lở bờ.

Các kết quả phân tích địa mạo tai biến xói lở - bồi tụ lòng sông Tiền ở đoạn Tân Châu - Hồng Ngự được trình bày khái quát trên bản đồ địa mạo động lực (Hình 14).

Lời cảm ơn: Để hoàn thành bài báo này, ngoài các tài liệu trực tiếp điều tra, phân tích, tác giả còn được phép tham khảo tài liệu cũng như những ý kiến góp ý của các KS. Nguyễn Nhã Toàn, Đinh Văn Tùng công tác tại Liên đoàn Bản đồ Địa chất miền Nam và các KS. Phạm Thế Thạch, Nguyễn Đình Hùng công tác tại Công ty Cổ phần Địa chất - Khoáng sản (GEOSIMCO). Tác giả xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ quí báu trên.

VĂN LIỆU

1. Hà Quang Hải, Phạm Huy Long, Ngô Hồng Thọ, Nguyễn Nhã Toàn, 1995. Các biểu hiện nứt đất ở Nam Bộ và cao nguyên Đắc Lắc. TC Địa chất, A/230: 26-34. Hà Nội.

2. Lê Mạnh Hùng, Đinh Công Sản, 2002. Xói lở bờ sông Cửu Long và giải pháp phòng tránh cho các khu vực trọng điểm. Nxb Nông nghiệp, 196 trang.

3. Nguyễn Văn Thơ, 1991. Những dạng đặc biệt của trượt bờ sông Mekong trên nền trầm tích holocen và biện pháp công trình bảo vệ bờ sông. Địa lý - Địa chất - Môi trường, trang 84-90. Tp. HCM.

4. Phạm Huy Long (Chủ biên), 1995. Báo cáo Điều tra nguyên nhân và đề xuất phương án khắc phục, phòng ngừa sự cố sạt lở đất trên sông Tiền tại các điểm Tân Châu, Hồng Ngự, Chợ Mới, Sa Đéc, Mỹ Thuận, Măng Thít. Lưu trữ Địa chất. Hà Nội.

5. Pham Bach Viet, Lam Dao Nguyen, Ho Dinh Duan, 2002. Detecting changes in riverbank of Mekong River, Vietnam. GIS Development, 6/10: 33-35. The Asian GIS Monthly.

6. Vũ Chí Hiếu (Chủ biên), 2006. Báo cáo Kết quả khảo sát địa hình đáy sông, trữ lượng cát lòng sông Tiền khu vực khai thác xã Tân An, huyện Tân Châu, An Giang. Lưu trữ Sở Tài nguyên & Môi trường An Giang.