ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ VÀ ĐIỀU KIỆN TÍCH TỤ CÁC THÀNH TẠO SÉT BENTONIT VÀ ĐIATOMIT VÙNG CHEO REO, PHÚ TÚC VÀ CAO NGUYÊN VÂN HOÀ

PHAN ĐÔNG PHA, LÊ THỊ NGHINH, KIỀU QUÝ NAM, NGUYỄN XUÂN HUYÊN

Viện Địa chất, Viện KH&CN VN, 84, Phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội.

Tóm tắt: Sét bentonit phân bố liên quan với trầm tích tướng hồ, tập 3 hệ tầng Sông Ba (E3 sb), thành tạo trầm tích - phun trào tướng hồ, cảnh quan núi lửa tập 2 hệ tầng Kon Tum (N1 kt) và một số thành tạo trầm tích Đệ tứ (Q) tướng hồ trên bãi bồi, hồ móng ngựa, tướng hỗn hợp sông-biển nằm kề cận các thân khoáng bentonit tuổi Neogen. Sét điatomit liên quan chặt chẽ với tập 2 hệ tầng Kon Tum kể trên và có thể liên quan với tập 3 của hệ tầng Sông Ba.

Bentonit vùng Cheo Reo, Phú Túc và cao nguyên Vân Hoà được thành tạo theo các phương thức: lắng đọng từ dung dịch keo, biến đổi thứ sinh và biến đổi nhiệt dịch tại chỗ các khoáng vật alumosilicat trong môi trường kiềm tính. Nguồn vật liệu bentonit liên quan chặt chẽ với các thành tạo phun trào trung tính - axit hệ tầng Đơn Dương, granit kiềm phức hệ Vân Canh và phun trào bazan Kainozoi. Điatomit được thành tạo ở phần trung tâm hồ nước ngọt miền duyên hải cảnh quan núi lửa. Nguồn dinh dưỡng và khoáng chất cung cấp cho sự phát triển tảo Diatomeae và thành tạo điatomit do các hoạt động núi lửa phun trào đồng sinh cung cấp.

I. ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong phạm vi vùng Cheo Reo, Phú Túc và cao nguyên Vân Hoà đã phát hiện 26 tụ khoáng, điểm quặng bentonit và 10 tụ khoáng, điểm quặng điatomit. Việc nghiên cứu chi tiết các đặc điểm thành phần vật chất, quy luật phân bố và điều kiện tích tụ của các thành tạo sét bentonit và điatomit không chỉ cho phép xác định các kiểu nguồn gốc mỏ, chất lượng nguyên liệu và khả năng sử dụng của các loại hình khoáng sản này, mà còn góp phần làm sáng tỏ điều kiện cổ địa lý và lịch sử phát triển địa chất vùng.

II. ĐẶC ĐIỂM PHÂN BỐ

1. Đặc điểm địa tầng

Sét bentonit và điatomit phân bố trong các trũng Kainozoi dọc theo đới đứt gãy Sông Ba thuộc phạm vi các trũng Cheo Reo (Ayun Pa, Ia Pa, Gia Lai), Phú Túc (Krông Pa, Gia Lai và một phần nhỏ thuộc các huyện Sơn Hoà, Sông Hinh, Phú Yên) và cao nguyên Vân Hoà (Phú Yên). Hầu hết các tụ khoáng, điểm quặng sét bentonit trong vùng liên quan chặt chẽ với các thành tạo trầm tích hệ tầng Sông Ba (E3 sb), trầm tích - phun trào hệ tầng Kon Tum (N1 kt) và một số thành tạo trầm tích Đệ tứ bở rời. Sét điatomit chủ yếu liên quan đến các thành tạo trầm tích - phun trào hệ tầng Kon Tum.

Hệ tầng Sông Ba lộ ra ở rìa phía bắc và đông nam trũng Cheo Reo, rìa tây nam và đông bắc trũng Phú Túc, một dải nhỏ ở Sơn Hoà, còn lại nằm chìm dưới lớp phủ trầm tích Đệ tứ và bazan. Phần trung tâm các trũng bị trầm tích Đệ tứ phủ dày tới 32-40 m. Mặt cắt hệ tầng gồm 3 tập, từ dưới lên như sau:

- Tập 1: Xen kẽ dạng nhịp giữa cát sạn kết chứa cuội và cát kết có chứa các thấu kính sét bột màu xám trắng, xám xanh xen ít xám nâu ở các mặt cắt ven rìa, chuyển sang cát kết chứa các ổ và thấu kính cát thô xen kẽ với sét-bột, sét kết màu xám xanh và các lớp than nâu ở trung tâm vùng trũng. Với các tập hợp bào tử phấn hoa thu thập ở phần thấp nhất trong mặt cắt trũng Phú Túc, Nguyễn Địch Dỹ (1987) đã xác định được các yếu tố Miocen trung của tập này [5]. Bề dày tập từ vài chục tới 150 m. Tập 1 phủ bất chỉnh hợp lên các thành tạo có tuổi cổ hơn.

- Tập 2: Cát sạn kết chứa các thấu kính cuội kết, cát kết, cát bột kết, sét kết xen kẽ các lớp than nâu phân bố dạng nhịp. Đá có màu xám trắng chuyển lên xám xanh, xám vàng và loang lổ vàng nâu ở cuối một số nhịp. Càng lên trên thành phần mịn trong nhịp càng dày, nhiều nơi chứa các lớp sét than và các thấu kính than nâu. Bề dày dao động từ 50 đến 250 m.

Các di tích thực vật đặc trưng trong hai tập trầm tích trên gồm: Ficus beauveriei, Dipterocarpus sp., Laurus vetusta, Persea sp., Ocotea foetens, Phragmites oeningensis, Ulmus carpinoides, v.v… Chúng tiêu biểu cho các phức hệ thực vật thuộc rừng cận nhiệt đới nóng ẩm thuộc hệ thực vật Nà Dương (E3) [8].

- Tập 3: Cát kết xen cát kết chứa vật liệu núi lửa, đôi khi chứa thưa thớt sỏi, sạn màu xám xanh chuyển lên các lớp dày bột kết, sét - bột kết chứa vật liệu núi lửa, sét kết xen các lớp có chứa carbonat mỏng màu xám xanh, đôi chỗ loang lổ nâu vàng luân phiên nhau trong mặt cắt. Đá chứa kết hạch, kết vón vôi silic. Một số nơi gặp những thấu kính sét bentonit, sét chứa Diatomeae có bề dày từ 1,2 đến vài ba mét. Bề dày của tập từ 20-30 tới 100-150 m.

Tại mặt cắt Buôn Ma Thung (trũng Phú Túc), lần đầu tiên chúng tôi phát hiện sự có mặt của tập hợp tảo Diatomeae bao gồm các loài: Aulacosira granulata, A. islandica, A. praegranulata, A. cf. jouseana… và các mảnh gai xương Bọt biển bảo tồn ở mức độ khác nhau [4,6]. Tại Lệ Bắc (trũng Phú Túc), Trịnh Dánh đã xác định được nhóm hoá thạch thực vật: Quercus advena - Ficus beauveriei: Dipterocarpus sp., Quercus advena, Ficus beauveriei, Periploca graeca và rất nhiều hoá thạch Dicotylophyllum.

Hệ tầng Kon Tum phân bố ở cao nguyên Vân Hoà, đặc trưng bởi trầm tích - phun trào tướng hồ - cảnh quan núi lửa xen kẽ các lớp bazan phun trào. Mặt cắt của hệ tầng Kon Tum được thể hiện rõ qua lỗ khoan TH4-500 và phần ven rìa cao nguyên; gồm 3 tập từ dưới lên:

- Tập 1: Cát kết tuf, dăm-sạn kết, bazan aphyr xen ít bazan porphyrit nghèo ban tinh, dạng đặc xít hoặc lỗ hổng và tuf của chúng. Phần diện lộ của tập quan sát được ở ven rìa cao nguyên (An Thọ, An Lĩnh, Phú Lương) có độ dày 40-100 m. Tại lỗ khoan TH4-500 ở Sơn Long, bề dày tập 1 lớn hơn 12 m (dưới độ sâu 188,0 m). Quan hệ của tập với các thành tạo cổ hơn chưa rõ.

- Tập 2: Sét bột kết tuf, cát sạn kết tuf, sét kết, sét bentonit, điatomit xen các lớp bazan bọt, bazan lỗ hổng và tuf của chúng; đôi khi trong mặt cắt có dăm sạn kết, cuội kết tufogen,... dạng dòng dung nham vụn núi lửa. Trong lỗ khoan TH4-500 có tới 19 lớp sét điatomit và 12 lớp sét bentonit xen kẹp có chiều dày trung bình 1-2 m. Tại vùng phía bắc và đông cao nguyên đã phát hiện ra từ 2 đến 3 thân điatomit có chiều dày lớn. Chiều dày tập trung bình khoảng 60-90 m.

Tập chứa tập hợp tảo Diatomeae nước ngọt gồm Aulacosira granulata, A. granulata var. angustissima, A. granulata var. muzzanensis, A. islandica,... đặc trưng cho môi trường đầm hồ nước ngọt và số lượng nhỏ Aulacosira undulata, Licmophora (?) đặc trưng môi trường nước ngọt vùng duyên hải và biển duyên hải tuổi Neogen [1]. Ngoài ra còn có một số lượng đáng kể (3-5%) gai xương Bọt biển mức độ bảo tồn khác nhau. Các phức hệ bào tử- phấn hoa rất phong phú cùng với các vết in mặt lá đặc trưng cho phức hệ thực vật cận nhiệt đới ôn hoà cũng cho tuổi Neogen.

- Tập 3: Bazan porphyrit, bazan aphyr dạng đặc xít hoặc lỗ rỗng màu xám đen, xám xanh. Tập 3 nằm chuyển tiếp trên trầm tích, trầm tích phun trào tập 2 và bị phun trào bazan của hệ tầng Đại Nga phủ lên trên. Bề dày tập khoảng 30-50 m.

Chiều dày chung của hệ tầng 130-160 m.

Sét bentonit phân bố liên quan với trầm tích tướng hồ tập 3 hệ tầng Sông Ba, trầm tích - phun trào tướng hồ cảnh quan núi lửa tập 2 hệ tầng Kon Tum và một số thành tạo trầm tích Đệ tứ tướng hồ trên bãi bồi, hồ móng ngựa, tướng hỗn hợp sông-biển nằm kề cận các thân khoáng bentonit tuổi Neogen. Sét điatomit liên quan chặt chẽ với các thành tạo trầm tích- phun trào tướng hồ cảnh quan núi lửa thuộc tập 2 hệ tầng Kon Tum và có thể liên quan với tập 3 của hệ tầng Sông Ba [4,6,7].

2. Đặc điểm phân bố các thành tạo sét bentonit

Đặc điểm phân bố sét bentonit

Các thành tạo bentonit chủ yếu phân bố ở các bồn trũng dọc đới địa hào Sông Ba có nguồn gốc hồ phát triển trên bãi bồi, hồ móng ngựa hoặc tướng hồ thung lũng giữa núi thuộc tập 3 của hệ tầng Sông Ba. Cấu trúc mặt cắt gồm 3-5 thân khoáng có cấu tạo phân lớp ngang mỏng - trung bình, cấu tạo nhịp; đôi khi có dạng thấu kính hoặc xen kẹp. Bề dày các thân khoáng khoảng 1-3 m; cá biệt tới 5-6 m.

Bentonit tuổi Neogen phân bố trong trầm tích tướng hồ - bãi bồi, hồ móng ngựa phân bố ở phần thấp của hệ tầng Sông Ba. Bentonit thuộc loại này có màu xám vàng, xám loang lổ, phớt tím; chất lượng kém: hàm lượng montmorilonit thấp (40- 60%), độ thu hồi thấp, sét có độ phân tán không cao. Diện phân bố rộng, độ dày lớn. Bentonit tuổi Neogen phân bố trong trầm tích tướng hồ thung lũng giữa núi phân bố ở phần cao của tập 3. Bentonit thuộc loại này có màu xám trắng, xám nhạt, xám xanh; chất lượng tốt: hàm lượng montmorilonit cao (55- 80%); độ thu hồi lớn, sét có độ phân tán cao. Diện phân bố hạn chế, bề dày nhỏ.

Bentonit tuổi Đệ tứ phân bố trong trầm tích tướng hồ trên bãi bồi, hồ móng ngựa, tướng hỗn hợp sông-biển nằm kề cận các thân khoáng bentonit tuổi Neogen; thường là sản phẩm tái lắng đọng từ các thân khoáng bentonit tuổi Neogen có trước bị phá huỷ và có thể cả nguồn keo sét montmorilonit mới hình thành trên vỏ phong hoá đưa vào. Bentonit thuộc loại này có màu xám, xám đen, chất lượng thấp: hàm lượng montmorilonit 40-60%, độ thu hồi rất thấp (25-30%), hàm lượng sắt cao,..

Đặc điểm phân bố bentonit trầm tích - phun trào

Bentonit trầm tích - phun trào phân bố ở Vân Hoà trong các hồ cảnh quan núi lửa thuộc tập 2 hệ tầng Kon Tum. Bentonit được thành tạo trong các lớp ở đới trung tâm hồ, hoặc tạo thành các thấu kính nhỏ ở những vũng vịnh có chế độ nước yên tĩnh gần bờ. Cấu trúc mặt cắt gồm nhiều thân khoáng, cấu tạo dạng thấu kính, phân lớp ngang. Độ  phân lớp thay đổi từ phân lớp trung bình, phân lớp mỏng đến vi phân lớp. Chiều dày thân khoáng thường nhỏ, từ 0,5 đến 1,5m. Tại phần trên của tập 2 các thân khoáng bentonit luân phiên xen kẽ với các lớp điatomit. Bentonit có màu vàng đất đến trắng phớt vàng, bị nứt nẻ nhiều gần như bị vỡ vụn, vết vỡ vỏ chai, trơn tay, hạt rất mịn. Bentonit có chất lượng tốt thường phân bố ở phần thấp của tập 2 và tại chân các công trình núi lửa, ở đó ngoài montmorilonit còn có hàm lượng đáng kể zeolit (có thể tới 75%). Trong không gian, bentonit có diện phân bố rất lớn.

3. Đặc điểm phân bố các thành tạo sét điatomit

Các thân khoáng sét điatomit trong vùng nghiên cứu chỉ mới bắt gặp tại cao nguyên Vân Hoà. Tuy nhiên, với sự có mặt của các tập sét chứa Diatomeae Neogen mới phát hiện dọc đới đứt gãy địa hào Sông Ba thì các vùng Cheo Reo, Phú Túc cũng trở thành có tiềm năng.

Tại cao nguyên Vân Hoà, điatomit có từ 2 đến 5 thân khoáng có giá trị công nghiệp với độ dày từ vài mét đến hàng chục mét (thân khoáng 3 Hoà Lộc dày trung bình 28,3 m; có chỗ tới 33,4 m). Các thân khoáng lộ ra trên bề mặt tạo thành viền bao quanh sườn bắc, đông và tây cao nguyên trong khoảng độ cao từ 70-200 m ở sườn phía đông (An Lĩnh, Tuy Dương, An Thọ) đến 160-320 m ở sườn bắc và tây (Hoà Lộc, Dốc Thặng). Sét điatomit thường có màu trắng, xám trắng, đôi khi xám phớt nâu. Cấu tạo phân lớp ngang từ vi phân lớp, phân lớp mỏng đến dày, đôi khi xen kẹp các lớp, thấu kính tuf và bentonit mỏng. Các thân khoáng chính đều nằm trên phần cao của tập 2. Tại phần dưới của tập, các lớp điatomit thường mỏng và chứa nhiều tạp chất, đôi khi có dạng tufođiatomit. Tại lỗ khoan TH4-500 có tới 19 lớp điatomit khác nhau trong mặt cắt tập 2. Theo không gian, độ dày và chất lượng các thân khoáng điatomit giảm dần về phía nam.

III. ĐIỀU KIỆN TÍCH TỤ

1. Điều kiện tích tụ các thành tạo sét bentonit.

Nguồn vật liệu và các quá trình địa hoá chủ yếu

a/ Nguồn vật liệu: Nguồn vật liệu ban đầu để thành tạo các khoáng vật nhóm smectit ở các vùng Cheo Reo, Phú Túc và Vân Hoà khá đa dạng, bao gồm (Hình 1):

- Nguồn vật liệu lục nguyên, bao gồm vật liệu vụn hay vật liệu dạng keo, huyền phù là sản phẩm phong hoá các đá giàu alumosilicat từ các vùng bào mòn xung quanh như phun trào hệ tầng Đơn Dương (K đd), xâm nhập giàu kiềm phức hệ Vân Canh (gxT2 vc), bazan Kainozoi.

- Nguồn vật liệu núi lửa đồng sinh hoạt động trên vùng bồn trầm tích, trong đó đáng chú ý là tuf, tro thuỷ tinh núi lửa. Hoạt động phun trào này kéo dài gần như xuyên xuốt quá trình tích tụ trầm tích Kainozoi. Trên hình số 1 thể hiện các vật liệu núi lửa bị montmorilonit hoá dưới kinh hiển vi phân cực và kính hiển vi điện tử quét.

b/ Các quá trình địa hoá chủ yếu: Các quá trình địa hoá chủ yếu để thành tạo các khoáng vật nhóm smectit bao gồm:

- Quá trình thuỷ phân các khoáng vật nhóm felspat trong điều kiện môi trường trung tính - kiềm hình thành montmorilonit. Đây là quá trình đóng vai trò chủ đạo đối với các thành tạo bentonit nguồn gốc trầm tích hệ tầng Sông Ba. Quá trình thuỷ phân tuf thuỷ tinh núi lửa thành montmorilonit trên ryolit bán phong hoá hệ tầng Đơn Dương tại Cầu Cây Sung được thể hiện rõ trên Ảnh 1, Hình 2.

- Quá trình biến đổi gần với biến đổi nhiệt dịch nhiệt độ thấp xảy ra giữa các vật liệu tro, tuf, thuỷ tinh núi lửa với môi trường nước có độ kiềm cao, giàu khoáng hoá có sức công phá mạnh. Đây là quá trình đóng vai trò chủ đạo đối với các thành tạo bentonit nguồn gốc trầm tích - phun trào hệ tầng Kon Tum. Các quá trình biến đổi thứ sinh chủ yếu là montmorilonit hoá vật liệu núi lửa và các khoáng vật alumosilicat hoặc đôi khi là montmorilonit hoá zeolit (Ảnh 2-4, Hình 2) [3, 10]. Quá trình này cũng có ảnh hưởng nhất định đến các thành tạo bentonit nguồn gốc trầm tích, đặc biệt tại các vùng bị bazan chảy tràn phủ trực tiếp lên trên (Chư Sê, Củng Sơn).

- Quá trình hấp thụ và trao đổi ion là hấp thụ các nguyên tố kiềm, kiềm thổ có sẵn trong môi trường giàu kiềm và sự thay thế các ion kiềm thổ (Ca, Mg) bằng các ion kiềm (K, Na) trong cấu trúc tinh thể của montmorilonit trong điều kiện môi trường giàu kiềm trong thời gian lâu dài. Quá trình này đóng vai trò quyết định trong việc thành tạo sét bentonit kiềm ở Cầu Cây Sung, Xuân Sơn Nam và có thể cả ở Phú Túc.

- Quá trình kết tinh, ngưng tụ keo: các keo sét montmorilonit dạng lơ lửng hoặc huyền phù được rửa trôi từ các miền bào mòn có môi trường axit yếu đến trung tính sẽ kết tinh, ngưng tụ lại trong môi trường có tính kiềm do thay đổi mạnh độ pH. Đây thường là các hồ nước ngọt có độ sâu lớn, yên tĩnh (Cầu Cây Sung, Chư Sê,..) hoặc vùng nước lợ dạng vũng vịnh nhỏ yên tĩnh (Xuân Sơn Nam). Đôi khi chúng xảy ra ngay tại vùng ngưỡng cửa sông có độ dốc lớn, nơi thường có sự thay đổi độ pH khá đột ngột. Quá trình tích tụ bentonit tại Xuân Sơn Nam có thể tương tự sự tích tụ bentonit ở vùng đồng bằng Cửu Long (Thái Mỹ, Tân Thới Nhì, Duyên Hải,…).

Chú giải:

Qua kính hiển vi phân cực: 1- Tuf núi lửa trong ryolit hệ tầng Đơn Dương tại Cầu Cây Sung
(10 x 4; -); 2- Tuf núi lửa đồng sinh trong bột sét kết chứa tuf của tập 3, hệ tầng Sông Ba tại Suối Ya Iao (10 x 4; -); 3- Thuỷ tinh núi lửa trong bazan lỗ hổng hệ tầng Kon Tum tại Tuy Dương (10 x 10; -); 4- Thuỷ tinh núi lửa trong tuf hệ tầng Kon Tum tại Phú Lương (10 x 4; -);

Qua kính hiển vi điện tử quét: 5- Tinh thể montmorilonit dạng hoa tại sinh (x1000); 6- Tinh thể philipsit phát triển trên nền montmorilonit tại sinh dạng keo (x 2 000); 7- Tinh thể philipsit bị montmorilonit hoá trên bề mặt (x 5000) (Các mẫu lấy ở Phú Lương)


Đặc điểm và quy luật tiến hoá môi trường

Quá trình trầm tích trong các bồn trũng Kainozoi được đặc trưng bởi sự thay thế mang tính chu kỳ có tính chuyển tiếp về thành phần thạch học, thành phần cơ giới và môi trường trầm tích trong mặt cắt theo cả chiều ngang và thẳng đứng [2,4,6].

Dựa vào sự phân bố của các khoáng vật chỉ thị cho đặc điểm địa hoá của môi trường như kaolinit, vật liệu than, montmorilonit trong mặt cắt, có thể thấy môi trường thành tạo bentonit trong trũng Neogen đã tiến hoá qua 3 giai đoạn:

- Giai đoạn I: Quá trình sụt lún mạnh mẽ hình thành các bồn trũng, địa hình phân cắt mạnh, quá trình phong hoá cơ học chiếm ưu thế. Các bồn trầm tích được lấp đầy bởi các thành phần vật liệu hạt thô như cuội, sạn, sỏi, cát thô. Tại các vùng phát triển hoạt động phun trào, trong mặt cắt bắt gặp sự xen kẹp các thấu kính, lớp mỏng bazan. Ở một số vùng ven rìa bồn trũng có thể bắt gặp các lớp, vỉa than nâu mỏng (Cheo Reo, Phú Túc, Dốc Phượng, Tuy Dương). Giai đoạn này được đặc trưng bởi môi trường axit, chứa vật liệu than và kaolinit.

- Giai đoạn II: Quá trình bóc mòn giảm dần cường độ, độ dốc địa hình dần đi về hướng cân bằng, bồn trầm tích cũng được mở rộng hơn. Nguồn vật liệu vụn cung cấp cho bồn trầm tích lúc này đã được đưa đến từ xa hơn. Thành phần hạt mịn tăng dần trong mặt cắt. Quá trình biến đổi hoá học xảy ra ngày càng mạnh mẽ hơn dẫn đến môi trường trầm tích dần thay đổi với xu thế chung là chuyển sang trung tính. Tại các vùng phát triển các thành tạo alumosilicat giàu kiềm như ryolit hệ tầng Đơn Dương hay granosyenit, granosyenit porphyr phức hệ Vân Canh,... quá trình thuỷ phân, rửa lũa đá gốc đã bắt đầu có xu thế môi trường kiềm tính tại các bồn trầm tích kế cận. Kèm theo sự gia tăng các vật liệu hạt mịn, trong giai đoạn này có thể có mặt các thân khoáng điatomit. Tại các vùng phát triển hoạt động phun trào thường xen kẽ thêm các lớp, vỉa bazan và thành phần vật liệu núi lửa gia tăng trong mặt cắt.

- Giai đoạn III: Hoạt động kiến tạo rất bình ổn, quá trình bóc mòn suy giảm mạnh hình thành các lớp hạt mịn như sét, sét bột ở phần trên cùng mặt cắt chu kỳ. Các vật liệu trầm tích trải qua quá trình biến đổi hoá học mạnh trên đường vận chuyển vẫn tiếp tục quá trình biến đổi trong môi trường nước kiềm của bồn trầm tích. Tại các vùng phát triển các thành tạo alumosilicat giàu kiềm, các bồn trầm tích chuyển mạnh sang kiềm tính, montmorilonit được tích tụ với hàm lượng tăng cao. Các thân khoáng bentonit được thành tạo tại các vùng có nguồn vật liệu phù hợp (giàu các khoáng vật alumosilicat, giàu vật liệu tro, tuf và thuỷ tinh núi lửa).

Các dao động kiến tạo nhịp nhàng trong Neogen đã tạo nên các thân khoáng bentonit trong mặt cắt. Đối với từng bồn trũng cũng như từng vùng cụ thể trong mỗi bồn thì thành phần vật liệu trầm tích, khả năng tiêu thoát nước, quãng đường di chuyển của vật liệu, điều kiện địa hình bồn trũng,... là các nhân tố quan trọng chi phối đến sự thành tạo bentonit trong vùng.

2. Điều kiện tích tụ các thành tạo sét điatomit

Nguồn vật liệu

Điatomit được tạo thành từ các mảnh vỏ tảo Diatomeae, một loại thực vật đơn bào ưa sắt có cấu tạo từ oxit silic dạng opal vô định hình. Các giống loài tảo Diatomeae tạo đá chủ yếu trong vùng là các tảo trôi nổi sống trong môi trường nước ngọt miền duyên hải, số lượng tảo bám đáy (bentos) rất ít [1].

Ngoài các mảnh vỏ tảo Diatomeae, trong đá còn có thể có số lượng nhỏ gai xương Bọt biển. Hàm lượng mảnh vỏ Diatomeae trong điatomit chiếm từ 50% trở lên với số lượng mảnh vỏ từ 5-7 triệu đến 100 triệu mảnh vỏ/g đá. Nguồn vật liệu oxit silic dạng opal vô định hình cấu tạo nên vỏ tảo có cấu trúc khung với nhiều lỗ mao quản kích thước nhỏ 0,5-3 mm. Các mảnh vỏ tảo thường có dạng đốt trúc còn tồn tại dạng quần thể hoặc từng đốt đơn lẻ kích thước từ 3-5 đến 30 mm, thậm chí bị vỡ vụn, dập nát.

Trong quá trình tích tụ và thành đá opal vô định hình của vỏ tảo hầu như không bị biến đổi. Các quá trình biến đổi chủ yếu mang tính cơ học như co ngót thể tích, mất nước. Các quá trình biến đổi trong đá chủ yếu là montmorilonit hoá, zeolit hoá vật liệu tuf thuỷ tinh núi lửa hoặc ít hơn là tái kết tinh nguồn opal không có nguồn gốc sinh vật thành Cristobalit và triđimit.

Đặc điểm môi trường tích tụ.

Diatomeae là loài tảo silic khá nhạy cảm với môi trường thành tạo. Trên cơ sở xác định các đặc điểm sinh thái của loài tảo này cũng như các dấu hiệu khác về cấu tạo, thành phần vật chất có thể xác định chính xác các đặc điểm môi trường tích tụ điatomit.

Các điều kiện thích hợp của bồn trầm tích để tồn tại và phát triển mạnh quần thể Diatomeae đủ để tích tụ các lớp điatomit dày hàng chục mét trong vùng gồm [9,11]:

- Giàu ánh sáng với giới hạn độ sâu khoảng 24 m, một số loài không quá 30 m.

- Giàu oxit silic với hàm lượng 1,4 - 32 mg SiO2 trong 1 lít nước, hàm lượng này tăng lên theo độ sâu.

- Nhiệt độ thích hợp 10-20oC; môi trường nước ngọt, với một số loài nước lợ có độ mặn không quá 2%.

- Giàu khoáng chất sắt, sulfat, phosphor, nitơ. Nghèo muối chlor (Na, Mg), calci.

- pH môi trường biến đổi từ axit yếu đến kiềm yếu.

Trong các yếu tố trên thì nguồn oxit silic và các khoáng chất là nguồn dinh dưỡng của Tảo Diatomeae nên đóng vai trò rất quan trọng. Các hoạt động phun trào núi lửa trong thời kỳ này chính là nguồn cung cấp hết sức dồi dào oxit silic và khoáng chất cho bồn trầm tích thông qua các dòng dung nham, vụn núi lửa nóng bỏng, dung dịch nhiệt dịch, khí phun nổ,… Ngoài ra chúng còn được bổ xung thêm từ các vùng bào mòn rộng lớn lân cận đưa xuống (Hình 1).

IV. KẾT LUẬN

Từ các kết quả nghiên cứu về đặc điểm phân bố và điều kiện tích tụ sét bentonit và điatomit trong vùng có thể cho phép kết luận:

1- Bentonit trầm tích Neogen có nguồn gốc hồ phát triển trên bãi bồi, hồ móng ngựa, hồ giữa núi liên quan đến tập 3 hệ tầng Sông Ba phân bố trong các trũng Kainozoi dọc sông Ba; bentonit trầm tích Đệ tứ thường là sản phẩm tái lắng đọng từ các thành tạo bentonit tuổi Neogen có trước hoặc thành tạo trong các vũng vịnh nhỏ yên tĩnh ven biển. Bentonit nguồn gốc trầm tích - phun trào và điatomit đều có nguồn gốc hồ cảnh quan núi lửa liên quan đến tập 2 hệ tầng Kon Tum phân bố ở cao nguyên Vân Hoà.

2- Bentonit được thành tạo theo các phương thức: lắng đọng từ dung dịch keo, biến đổi thứ sinh và biến đổi nhiệt dịch tại chỗ các khoáng vật alumosilicat trong môi trường kiềm tính. Nguồn vật liệu bentonit liên quan chặt chẽ với các thành tạo phun trào trung tính - axit hệ tầng Đơn Dương, granit kiềm phức hệ Vân Canh và phun trào bazan Kainozoi. Điatomit được thành tạo ở phần trung tâm hồ nước ngọt miền duyên hải cảnh quan núi lửa. Nguồn dinh dưỡng và khoáng chất cung cấp cho sự phát triển tảo Diatomeae và thành tạo điatomit do các hoạt động núi lửa phun trào đồng sinh cung cấp.

Bài báo được hoàn thành với sự hỗ trợ của Chương trình Nghiên cứu cơ bản giai đoạn 2006-2008 và sự giúp đỡ nhiều mặt của các đồng nghiệp. Các tác giả xin chân thành cảm ơn.

VĂN LIỆU

1. Đào Thị Miên, Phan Đông Pha, Lê Thị Nghinh, 1998. Diatomeae Neogen với sự thành tạo các khoáng sản liên quan trên cao nguyên Vân Hoà. TC Các KH về TĐ, 20/2: 115-122, Hà Nội.

2. Kiều Quý Nam, 1996. Bản chất nguồn cung cấp vật liệu trong quá trình hình thành mỏ sét bentonit Tam Bố. TC Các KH về TĐ, 18/3: 314-318, Hà Nội.

3. Lê Thị Nghinh, Petrova V.V., Phan Đông Pha, Nguyễn Trọng Yêm, Đào Thị Miên, 1996. Vài nét về khoáng hoá zeolit trong các thành tạo phun trào Pliocen vùng cao nguyên Vân Hoà. Địa chất Tài nguyên (Công trình kỷ niệm 20 năm thành lập Viện Địa chất), II: 214-222. Nxb. KH&KT, Hà Nội.

4. Lê Thị Nghinh (Chủ biên), 2003. Đánh giá tiềm năng bentonit, điatomit; khả năng sử dụng phục vụ phát triển kinh tế Tây Nguyên. Báo cáo tổng kết đề tài. Lưu trữ Viện Địa chất, 140 tr., Hà Nội.

5. Nguyễn Địch Dỹ, 1987. Địa tầng và cổ địa lý trầm tích Kainozoi Việt Nam. Luận án TS KH. Trường ĐHTH Kharkov, Kharkov (tiếng Nga).

6. Phan Đông Pha, 2004. Đặc điểm địa chất các thành tạo sét bentonit và điatomit vùng Cheo Reo, Phú Túc và cao nguyên Vân Hoà. Luận văn ThS Địa chất, 94 tr., ĐH Mỏ - Địa chất, Hà Nội.

7. Phan Đông Pha, Lê Thị Nghinh, 2006. Các kiểu nguồn gốc bentonit Tây Nguyên. Kỷ yếu Hội nghị Khoa học kỷ niệm 40 năm thành lập Khoa Địa chất, Trường ĐHKHTN, tr. 88- 102, Hà Nội.

8. Tống Duy Thanh, Vũ Khúc (Đồng chủ biên), 2005. Các phân vị địa tầng Việt Nam. Nxb Đại học Quốc gia, Hà Nội.

 9. Жузе А. П., 1949. Диатомовые тречичных отложений. В кн.Диатомовый анализ”, 1, Госгеоиздат.

1. Петровa В. B., Фан Донг Фа и др., 1997. Особенности цеолитизации Неогеновых туфов Вьетнама. Литология и полежные ископaемые. 2: 163-174.

11. Скабичевский А. П., 1960. Планктонные диатомовые водорослеи пресноводных вод СССР. Изд. Гос., Москвa.