TAI BIẾN ĐỊA HOÁ VÙNG BIỂN VIỆT NAM: HIỆN TRẠNG, XU THẾ

VÀ CÁC GIẢI PHÁP GIẢM NHẸ

 

1TRẦN ĐĂNG QUY, 1NGUYỄN TÀI TUỆ, 1LƯƠNG LÊ HUY, 2TRỊNH NGUYÊN TÍNH

2LÊ ANH THẮNG, 2ĐÀO MẠNH TIẾN, 3VŨ TRƯỜNG SƠN, 1MAI TRỌNG NHUẬN

1Trường Đại học Khoa học Tự nhiên – ĐHQGHN; 2Trung tâm Điều tra tài nguyên – môi trường biển;

3Tổng cục Biển và Hải đảo Việt Nam

 

Tóm tắt: Bảo vệ môi trường các hệ sinh thái biển có vai tṛ quan trọng đối với sự phát triển bền vững của Việt Nam. Các tai biến địa hóa trong vùng biển Việt Nam có thể chia làm bốn loại là sự tăng cao hàm lượng dầu, kim loại nặng, các chất hữu cơ khó phân hủy (POPs) trong môi trường biển và nhiễm mặn ở vùng ven biển. Dầu đặc biệt cao tại các khu vực trọng điểm như vịnh Hạ Long, cửa Lục, Vũng Tàu, Phú Quốc và đă vượt quy chuẩn kĩ thuật quốc gia của Việt Nam. Các kim loại nặng có xu thế tập trung cao trong môi trường biển ở khu vựcc gần bờ, đặc biệt là trước các cửa sông lớn, các đầm phá ven biển các vùng vịnh. Các chất POPs có một với hàm lượng cao trong trầm tích ven bờ ở miền Bắc, trong các đầm phá ven biển miền Trung và vùng biển trước các cửa sông Mê Kông. Tai biến nhiễm mặn nước mặt xảy ra chủ yếu ở các cửa sông vào mùa khô do sự suy giám lưu lượng của các sông, đặc biệt nghiêm trọng đối với các cửa sông vùng duyên hải miền Trung và đồng bằng sông Cửu Long. Nhiễm mặn nước ngầm xảy ra tại vùng ven biến Nam Trung Bộ dẫn đến quá tŕnh muối hóa thổ nhưỡng. Nhiễm mặn đất canh tác c̣n xảy ra do nước biển dâng cao trong băo tràn vào ruộng đồng. Quy mô phân bố,cường độ và xu thế của các tai biến địa hóa này ngày càng tăng do tăng cường các hoạt động nhân sinh trên đất liền, khai thác tài nguyên, khoáng sản và hoại động hàng hải trên biển. Để ǵảm nhẹ ô nhiễm môi trường biển cần xây dựng và thực hiện các chương tŕnh giảm sát, quản lư môi trường cả trên đất liền và trên biển.

 

(Xem toàn văn: Liên hệ với Tạp chí Địa Chất – Tổng Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam)