NHỮNG KẾT
QUẢ NGHIÊN CỨU BAN ĐẦU VỀ TRẦM TÍCH
ĐỆ TỨ VÀ SỰ DAO ĐỘNG
CỦA MỰC NƯỚC BIỂNVÙNG QUẦN THỂ DANH
THẮNG TRÀNG AN (NINH BÌNH)
TRẦN TÂN VĂN1,
NGUYỄN ĐẠI TRUNG1, VŨ VĂN HÀ2,
TRỊNH THỊ THÚY1
1Viện
Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà
Nội
2Viện
Địa chất - Viện Hàn lâm Khoa học và Công
nghệ Việt Nam,
Phố Chùa Láng, Đống Đa, Hà Nội
Tóm
tắt: Vùng Tràng An đã trải qua các
đợt biển tiến, biển thoái tương
ứng với các chu kỳ băng hà và gian băng trên
thế giới suốt từ Pleistocen sớm đến
Holocen muộn và đặc biệt là đợt biển
tiến Flandrian. Các đợt biển tiến, biển
thoái đan xen có ảnh hưởng đến vùngNinh Bình
là: Biển tiến Cát Lâm, Bỉm Sơn vào đầu
Pleistocen muộn, biển tiến Vĩnh Phúc vào cuối
Pleistocenmuộn. Các đợt biển thoái và biển
tiến nêu trên đã để lại dấu vết
của các trầm tích Đệ tứ tương ứng
của các hệ tầng Vĩnh Phúc, Hải Hưng và Thái
Bình. Các trầm tích Đệ tứ ứng với thời
gian biển tiến nêu trên chủ yếu là bột sét màu
xám ghi, xám xanh hạt mịn hoặc lẫn mùn thực
vật màu xám đen thể hiện tướng vũng
vịnh với độ sâu trăm mét; còn các trầm tích
Đệ tứ ứng với biển thoái chủ yếu
là sét, bột cát lẫn sạn laterit tướng sông, sông
biển.Sau đó là thời kỳ biển tiến
Đống Đa (hay còn gọi là biển tiến Hải Hưng
và ứng với biển tiến Flandrian ở khu vực
các nước Bỉ, Hà Lan v.v.) đạt cực
đại vào giai đoạn Holocen giữa (7.000-4.000
năm trước). Một số ngấn biển phức
hợp có thể nhận biết qua các bằng chứng
về sự dao động nước biển nhỏ
hơn trong thời gian từ 500 đến 1.000 năm
trước.Các dấu vết của hoạt động
biển được lưu giữ lại trên đá vôi
tạo thành các ngấn nước ăn mòn với các độ
cao khác nhau tương ứng với từng thời
kỳ biển tiến trong Đệ tứ. Theo các kết
quả phân tích tuổi tuyệt đối 14C
của các mảnh hàu hà bám vào các ngấn nước ăn
mòn trên đá vôi Tràng An ở độ cao 2m có độ
tuổi dao động từ 6.500 năm đến 4.300
năm trước tương ứng với giai
đoạn Holocen sớm - giữa (biển tiến Hải
Hưng - biển tiến Flandrian). Các hang động ở
vùng Tràng An rất điển hình, chủ yếu là hệ
thống các hang luồn karst và hang hóa thạch được
hình thành trong 4 giai đoạn: Giai đoạn 1 là các hang
cổ nhất có độ cao trên 60m được thành
tạo trong giai đoạn cuối Pleistocen
sớm-đầu Pleistocen giữa như hang Trống, hang
Bói, mái đá Chợ. Giai đoạn 2 là các hang có độ
cao từ 10đến 15m; 20đến 30m được
thành tạo trong Pleistocen muộn như các hang Thung Bình, Mòi.
Giai đoạn 3 là các hang có độ cao từ 2
đến 9 m được thành tạo trong giai
đoạn Holocen sớm-giữa như mái đá Vàng, mái
đá Ông Hay, hang Ốc, Trâu Bái Đính, Động Thiên Hà
v.v.. Giai đoạn 4 là các hang có độ cao dưới
2m chủ yếu là các hang luồn karst như Sinh, Séo,
Thuốc, Địa Linh, Quy Hậu v.v. Hàng chục hang
đã phát hiện có công cụ đồ đá của
người tiền sử ở các hang Ốc, Động
Thiên Hà, mái đá Vàng, mái đá Ông Hay, hang Mòi, là nơi cư
trú của con người trong giai đoạn biển
tiến Hải Hưng (Đống Đa) vào Holocen
sớm-giữa khi biển ngập toàn bộ vùng Tràng An đến
độ cao lớn hơn 2 và đến 10m. Một
số hang như hang Trống, hang Bói, mái đá Chợ v.v.
có thể là nơi cư trú của con người trong giai
đoạn Pleistocen muộn (23.000 năm trước).