ĐÁNH
GIÁ Ô NHIỄM KIM LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH VỊNH ĐÀ
NẴNG: KIẾN NGHỊ VÀ GIẢI PHÁP PH̉NG NGỪA
PHẠM
THỊ NGA, LÊ VĂN ĐỨC, NGUYỄN DUY DUYẾN, LÊ VIỆT
THÀNH
Trung tâm Địa
chất và Khoáng sản Biển, 125 Trung Kính, Cầu Giấy,
Hà Nội
Tóm tắt: Công
tác nghiên cứu địa hóa môi trường trong trầm
tích biển có mục đích là phác họa bức tranh phân bố
của các nguyên tố và xác định vùng tập trung của
chúng trong trầm tích. Cụ thể là nghiên cứu
đặc điểm phân bố của nguyên tố và hợp
chất hoá học tồn tại dưới dạng
anion-cation hấp thụ trao đổi. Nhiều nguyên
tố hoá học, đặc biệt là nhóm các kim loại nặng như Hg, Cd, Cu, Pb… khi tồn
tại dưới dạng anion-cation sẽ rất linh
động. Chúng gây ô nhiễm môi trường trầm tích
đáy và thâm nhập vào cơ thể sinh vật thông qua con
đường tiêu hoá, sau đó sẽ trực tiếp hoặc
gián tiếp tác động đến sức khoẻ con
người.
Bài báo này giới thiệu kết
quả nghiên cứu môi trường trầm tích đáy ở
vịnh Đà Nẵng, như đặc điểm Eh, pH trong trầm tích vùng nghiên cứu, đặc
điểm phân bố các ion trong trầm tích, đánh giá mức
độ ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm trong trầm
tích, từ đó đưa ra kiến nghị và giải
pháp pḥng ngừa.
I. MỞ
ĐẦU
Vùng biển vịnh Đà Nẵng có những
đặc trưng riêng về điều kiện tự
nhiên, có vị thế đặc biệt quan trọng với
tài nguyên biển và an ninh quốc pḥng trong khu vực. Đó
là những điều kiện thuận lợi cho việc
phát triển cảng biển và các ngành kinh tế khác,
như nuôi trồng, đánh bắt hải sản, du lịch,
dịch vụ. Các hoạt động nhân sinh như: giao
thông vận tải, xả các chất thải trong sản
xuất và sinh hoạt, gây ảnh hưởng tới
môi trường, ô nhiễm môi trường, suy thoái cảnh
quan và tài nguyên.
Để phục vụ các mục tiêu xây
dựng kinh tế
- xă hội, việc nghiên cứu địa
hóa môi trường, đặc biệt là ô nhiễm kim loại nặng,
trong trầm tích vùng biển vịnh Đà Nẵng sẽ góp phần làm cơ sở khoa học cho phát triển bền
vững và quy hoạch sử dụng hợp lư tài nguyên.
Nghiên cứu này c̣n đáp ứng vào việc ḥa nhập với
khu vực và cộng đồng quốc tế trong lĩnh
vực sử dụng, khai thác và bảo vệ tài nguyên môi
trường ven biển và biển.
II.
PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH
Để nghiên cứu ô nhiễm kim loại
nặng trong trầm tích vịnh Đà Nẵng, chúng tôi
đă sử dụng các phương pháp phân tích sau đây:
1. Đo
độ pH trầm tích: Dùng các máy đo pH meter.
2. Phân tích
xác định hàm lượng carbonat sinh vật và hóa học:
Carbonat được tách ra khỏi trầm tích và tách chúng
ra khỏi nhau bằng phương pháp lọc tuyển sa lắng;
phân tích mẫu bằng phương pháp khối lượng,
so màu và chuẩn độ thông thường. Độ
chính xác đạt 0,1%.
3. Phân tích
các ion hấp thụ trong trầm tích K, Na, Ca, Mg, Mn, Hg,
Sb, As, Pb, Cu, Zn, PO43-, NO3-, CO32-,
B-, Br-, I-: Để xác định
hàm lượng các nguyên tố hay hợp chất tồn tại
dưới dạng ion hấp thụ cần phải tách
(chiết) chúng trong dung dịch để phân tích. Sau khi
tách, các dung dịch được chọn lọc và phân
tích bằng các phương pháp đối với từng
chỉ tiêu cụ thể sau đây:
- K, Na được xác định bằng
phương pháp quang kế ngọn lửa hay hấp thụ
nguyên tử (độ chính xác 0,01%).
- Ca, Mg được xác định bằng
phương pháp chuẩn độ Complexon với độ
chính xác đến 0,05%.
- Mn, B-,
Br-, I-, PO43-,
NO3-, SO42- phân tích bằng
phương pháp so màu.
- Cu, Pb,
Zn, Sb, As, Hg phân tích bằng phương pháp quang phổ hấp
thụ nguyên tử.
4. Phân tích hàm lượng carbonat hữu
cơ bằng phương pháp Knop: sử dụng K2Cr2O7
oxy hóa carbon thành CO2 và bị hấp thụ bởi Ba(OH)2 thành BaCO3. Xác định
lượng Ba(OH)2 tham gia vào phản
ứng để tính lượng carbon hữu cơ.
Các chỉ tiêu phân tích trên được tiến
hành tại pḥng Pḥng Phân tích Trọng điểm Quốc gia
thuộc Viện Hóa học Công nghiệp và được
tổng hợp, xử lư, và thống kê bằng các phần
mềm chuyên dụng [5].
III. ĐẶC
ĐIỂM ĐỊA HÓA MÔI TRƯỜNG VÀ Ô NHIỄM KIM
LOẠI NẶNG TRONG TRẦM TÍCH VỊNH ĐÀ NẴNG
Trên cơ sở tổng hợp tài liệu
đề án "Điều tra địa chất và t́m kiếm
khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam (0-30 m
nước) tỷ lệ 1/500.000" [4] cùng với đề án:
"Điều tra, đánh giá tài nguyên, môi trường vùng
vịnh Đà Nẵng" [1], chúng tôi tŕnh
bày các kết quả nghiên cứu về đặc điểm
địa hóa môi trường trầm tích và nguy cơ ô nhiễm
môi trường trầm tích vịnh Đà Nẵng trong các mục
dưới đây.
1. Đặc
điểm môi trường địa hoá trong trầm tích
Trầm tích vùng vịnh
Đà Nẵng có giá
trị pH dao động trong khoảng 6,5-8,2, với giá trị trung b́nh 7,7. Các chỉ số này đặc
trưng cho môi trường từ trung tính đến kiềm
yếu. Độ pH thấp nhất có giá trị 6,5-7,5 phân
bố chủ yếu từ vùng biển phường
Thanh B́nh qua cửa sông Hàn sang vùng cảng quân sự.
Độ pH dao động trong khoảng 7,5-8,5 (Bảng
1), đặc trưng cho môi trường kiềm,
chiếm gần như toàn bộ diện tích vùng nghiên cứu.
Xu hướng biến đổi chung của pH là tăng dần
từ bờ ra khơi, mở rộng theo h́nh quạt. Chúng
chịu sự chi phối của trầm tích từ lục
địa mang ra giàu mùn thực vật và nước ngọt
với độ axit cao hơn.
Giá trị Eh dao động từ 184 đến 244 mV, trung b́nh 221 mV. Giá trị này đặc trưng cho môi trường oxy hoá mạnh. Căn cứ vào chỉ số pH và Eh có thể xác định được hai kiểu môi trường thành tạo trầm tích sau:
Bảng 1. Tham số môi trường địa
hóa môi trường trong trầm tích vùng biển vịnh
Đà Nẵng [1]
(Số mẫu N = 160 mẫu)
|
Thông số |
Cmax |
Cmin |
Ctb |
Cn |
S |
V (%) |
|
Eh (mV) |
244 |
184 |
221 |
219,9 |
11,2 |
5,1 |
|
pH |
8,2 |
6,5 |
7,7 |
7,68 |
0,39 |
5,1 |
- Môi trường
trung tính - oxy hóa mạnh (6,5<pH<7,5; Eh>150 mV): Kiểu môi trường
này chỉ phân bố từ vùng biển phường
Thanh B́nh qua cửa sông Hàn sang vùng cảng quân sự,
nơi tập trung nhiều tàu thuyền neo đậu, diện
tích khoảng 5,493 km2.
- Môi trường
kiềm yếu - oxy hóa mạnh (7,5<pH<8,5; Eh>150 mV): Chiếm phần lớn
diện tích vùng nghiên cứu.
2. Đặc
điểm các anion trong trầm tích biển
Để đánh giá mối liên hệ giữa
các yếu tố địa hóa môi trường và sự
tích lũy của kim loại nặng trong trầm tích, ở đây sử dụng phương pháp phân tích
thông kê là lập bảng tham số địa hóa và tính toán
hệ số tương quan (hệ số tương quan
Person). Dựa
vào kết quả phân tích 160 mẫu mà chúng tôi đă thu thập
năm 2008 trong đề án "Điều tra địa
chất, t́m kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ
(0-30 m nước) Việt Nam tỷ lệ 1/500.000" chúng
tôi lập bẳng tham số địa hóa và ma trận
tương quan cho các nguyên tố trong trầm tích vùng biển
vịnh Đà Nẵng.
a. Sulphat (SO42-):
Hàm lượng
trung b́nh của SO42- trong trầm tích là 581
ppm, với khoảng dao động 350-640 ppm. Hàm lượng
SO42- phân bố rất đồng đều
trong trầm tích, hệ số biến phân V = 13,33% (Bảng 2). Trong vùng nghiên cứu,
SO42- không tạo thành dị thường.
Bảng 2. Tham số địa hóa môi
trường các nguyên tố trong trầm tích vùng biển vịnh Đà Nẵng [1]
|
Tham số |
Mn |
Cu |
Pb |
Zn |
Sb |
As |
Hg |
SO42- |
PO43- |
NO3- |
CO32- |
|
ppm |
|||||||||||
|
Cmax |
780 |
2,5 |
40 |
18 |
0,66 |
6,3 |
1,2 |
640 |
460 |
320 |
89600 |
|
Cmin |
40 |
0,3 |
3 |
3,9 |
0,2 |
1,8 |
0,03 |
350 |
28 |
22 |
500 |
|
Ctb |
352 |
2 |
15 |
6,7 |
0,5 |
5 |
0,09 |
581 |
363 |
200 |
6600 |
|
Cn |
320 |
1,9 |
14 |
6 |
0,5 |
5,1 |
0,07 |
581 |
350 |
200 |
4300 |
|
S |
134 |
0,5 |
5 |
2,8 |
0,1 |
1,2 |
0,1 |
77,4 |
74 |
100 |
11900 |
|
V (%) |
38,1 |
23,2 |
29,9 |
41,2 |
19,8 |
26,5 |
148,4 |
13,33 |
20,4 |
20,02 |
181,3 |
|
Cn+S |
454 |
2,4 |
19 |
8,8 |
0,6 |
6,3 |
0,2 |
658,6 |
424 |
300 |
16300 |
|
Cn+2S |
588 |
2,8 |
23 |
11,5 |
0,7 |
7,5 |
0,3 |
736,1 |
498 |
400 |
28200 |
|
Cn+3S |
722 |
3,3 |
28 |
14,3 |
0,8 |
8,7 |
0,5 |
813,5 |
572 |
500 |
40100 |
|
HLTBTG |
850 |
40 |
20 |
20 |
1,4 |
1 |
0,03 |
|
|
|
|
|
Td |
4,1 |
0,5 |
7,5 |
3,4 |
3,6 |
50 |
30 |
|
|
|
|
Ghi chú: Td = hàm lượng
trung b́nh của các nguyên tố trong trầm tích vùng nghiên cứu/hàm
lượng trung b́nh của các nguyên tố trong trầm tích
biển nông thế giới [3].
b. Phosphat (PO43-):
Hàm lượng
PO43- dao động từ 28 đến 460
ppm, trung b́nh đạt 363 ppm. Phosphat phân bố tương
đối đồng đều trong trầm tích (V = 20,4%) (Bảng 2). Phosphat tạo
thành 2 dị thường với mức hàm lượng
440-460 ppm, phân bố chủ yếu ở các vùng: phía nam vũng
Kim Liên (7-10 m nước), ven biển phường Ḥa Minh (ở
độ sâu 8-12 m nước). Ngoài ra, c̣n gặp một số
điểm dị thường với mức hàm lượng
440-460 ppm phân bố các vùng sau: ven biển xă Hiệp Ḥa (ở
độ sâu 7-8 m nước), đông bắc cảng Tiên Sa (6-7 m nước), ngoài khơi Băi Bang (13-14
m nước).
PO43-
có tương quan với Pb, Cu, Sb, As, Hg, SO42-,
NO3- (R = 0,42-0,88), có
tương quan yếu hoặc không có tương quan với
các nguyên tố khác (Bảng 3).
c. Nitrat (NO3-):
NO3-
có hàm lượng trung b́nh 200 ppm, dao động từ 22
đến 320 ppm với hệ số biến phân V = 20,02%
(Bảng 2). Nitrat tạo thành 2 dị thường với mức
hàm lượng 300-320 ppm, phân bố ở các vùng sau: tây nam vũng
Kim Liên (7-10 m nước), ven biển phường Ḥa Minh
(8-12 m nước). Ngoài ra, c̣n gặp một điểm dị
thường có hàm lượng 310 ppm ở các vùng sau: ven biển
xă Ḥa Hiệp (7-8 m nước), đông bắc cảng Tiên Sa (6-7 m nước).
NO3-
có tương quan với Cu, Sb, As, Hg, SO42-,
PO43- (R = 0,45-0,88), có
tương quan yếu hoặc không có tương quan với
các nguyên tố khác (Bảng 3).
d. Carbonat (CO32-):
Hàm lượng
CO32- dao
động trong khoảng 500-89600 ppm, phân bố rất không
đồng đều (V = 86,31%) (Bảng 2). Carbonat không tạo thành dị
thường nào trong vùng nghiên cứu, mà chỉ gặp các
điểm dị thường với mức hàm lượng
22700-89600 ppm và phân bố ở các vùng sau: ngoài khơi cảng
Đà Nẵng (5-6 m nước), đông nam mũi cửa Khẻm
(10-11 m nước), tây - tây bắc Băi Bang (20-21 m nước).
CO32-
có tương quan với Mn, Zn (R = 0,01,
0,06), với các nguyên tố khác nó có tương quan yếu
hoặc không có tương quan (Bảng 3).
Bảng 3. Ma trận tương quan giữa các ion trong trầm
tích vùng biển vịnh Đà Nẵng
|
|
Mn |
Zn |
Pb |
Cu |
Sb |
As |
Hg |
SO42- |
PO43- |
NO3- |
CO32- |
|
Mn |
1 |
-0,35 |
0,30 |
0,43 |
0,17 |
0,11 |
0,10 |
0,45 |
0,36 |
0,29 |
0.01 |
|
Zn |
-0,35 |
1 |
0,10 |
-0,21 |
-0,49 |
-0,53 |
-0,62 |
-0,55 |
-0,50 |
-0,49 |
0.06 |
|
Pb |
0,30 |
0,10 |
1 |
0,45 |
0,12 |
-0,07 |
0,27 |
0,50 |
0,42 |
0,39 |
-0.10 |
|
Cu |
0.43 |
-0,21 |
0,45 |
1 |
0,55 |
0,64 |
0,60 |
0,67 |
0,52 |
0,45 |
-0.07 |
|
Sb |
0.17 |
-0,49 |
0,12 |
0,55 |
1 |
0,95 |
0,14 |
0,89 |
0,81 |
0,85 |
-0.15 |
|
As |
0.11 |
-0,53 |
-0,07 |
0,64 |
0,95 |
1 |
-0,37 |
0,96 |
0,81 |
0,80 |
-0.13 |
|
Hg |
0.10 |
-0,62 |
0,27 |
0,60 |
0,14 |
-0,37 |
1 |
0,93 |
0,82 |
0,83 |
-0.15 |
|
SO42- |
0.45 |
-0,55 |
0,50 |
0,67 |
0,89 |
0,96 |
0,93 |
1 |
0,79 |
0,77 |
-0.07 |
|
PO43- |
0.36 |
-0,50 |
0,42 |
0,52 |
0,81 |
0,81 |
0,82 |
0,79 |
1 |
0,88 |
-0.11 |
|
NO3- |
0.29 |
-0,49 |
0,39 |
0,45 |
0,85 |
0,80 |
0,83 |
0,77 |
0,88 |
1 |
-0.15 |
|
CO32- |
0.01 |
0,06 |
-0,10 |
-0,07 |
-0,15 |
-0,13 |
-0,15 |
-0,07 |
-0,11 |
-0,15 |
1 |
3. Đặc
điểm phân bố các nguyên tố trong trầm tích
a. Nguyên tố mangan (Mn):
Hàm lượng
Mn trong trầm tích vùng biển vịnh Đà Nẵng dao
động trong khoảng 40-780 ppm, trung b́nh 352 ppm. So với trầm tích biển nông thế giới
(850 ppm), hàm lượng của Mn thấp hơn nhiều lần.
Mn phân bố tương đối đồng đều
trong trầm tích (V = 38.1%) (Bảng 2), tạo thành 4 dị
thường địa phương với mức hàm
lượng 460-660 ppm, phân bố ở các vùng: Mũi Cửa
Khẻm (ở độ sâu 19-25 m nước), phía dông bắc
và nam vũng Kim Liên (ở độ sâu 7-15 m nước), bắc
và tây bắc cảng Tiên Sa (ở độ
sâu 14-17 m nước). Ngoài ra, nó c̣n tạo thành một số
diểm dị thường phân bố rải rác ven bờ
biển phường Minh Ḥa ở độ sâu 5-10 m nước,
với hàm lượng 460-530 ppm.
Mn có
tương quan với Cu và SO42- (R
= 0,43-0,45), với các nguyên tố khác nó có
tương quan yếu hoặc không có tương quan (Bảng
3).
b. Nguyên tố arsen (As):
Hàm lượng
arsen dao động trong khoảng 1,8-6,3
ppm, trung b́nh 5 ppm, cao hơn nhiều so với hàm
lượng trung b́nh của nó trong trầm tích biển nông
thế giới (1 ppm) (Bảng 2). As phân bố khá đồng
đều trong trầm tích của vùng (V = 26,5%) và chỉ tạo
thành 1 dị thường As với mức hàm lượng
6,2-6,3 ppm và phân bố ở vùng ven biển đồn biên
pḥng Hải Vân (ở độ sâu 7-10 m nước). Ngoài
ra, c̣n gặp một số mẫu có hàm lượng 6,2 ppm ở cảng quân sự gần nhà máy
X.50 (ở độ sâu 5 m nước).
As có
tương quan chặt với PO43-, NO3-
(0,80-0,81) và tương quan rất chặt
với Sb, SO42- (0,95-0,96), tương quan
trung b́nh với Cu (R = 0,64); với các nguyên tố
khác nó có tương quan yếu hoặc không có tương
quan (Bảng 3).
c. Nguyên tố antimon (Sb):
Trong trầm
tích vùng biển vịnh Đà Nẵng, hàm lượng Sb dao
động trong khoảng 0,2-0,66 ppm, hàm lượng trung
b́nh là 0,5 ppm, hệ số Td = 0,36. Sb phân bố đồng
đều trong trầm tích (V = 19,82 %) (Bảng 2). Sb tạo thành 3 dị thường
với mức hàm lượng 0,6-0,66 ppm.
Các dị thường này phân bố chủ yếu ở
các vùng biển sau: vùng ven biển phường Thọ Quang
(ở độ sâu 2-5 m nước), ngoài khơi biển
phường Ḥa Ninh (ở độ sâu 8-12 m nước),
tây nam vũng Kim Liên (ở độ sâu 7-10 m nước). Ngoài ra c̣n có một số điểm dị
thường phân bố rải rác trong vùng ở các độ
sâu khác nhau. Dựa vào Bảng 3, chúng ta thấy Sb có
tương quan chặt đến rất chặt với
As (R = 0.95) và tương quan chặt với SO42-,
PO43-, NO3- (R = 0,81-0,89); với các nguyên tố khác nó có
tương quan yếu hoặc không có tương quan (Bảng
3).
d. Nguyên tố đồng (Cu):
Hàm lượng
đồng dao động trong khoảng 0,3-2,5
ppm, trung b́nh 2 ppm, thấp hơn so với hàm lượng
trung b́nh trong trầm tích biển nông thế giới (40 ppm),
với hệ số Td = 0,05 (Bảng 2). Cu phân bố đồng
đều trong trầm tích vùng nghiên cứu (V = 23,2%), tạo thành 2 dị thường địa
phương với mức hàm lượng 2,4-2,5 ppm.
Dị
thường Cu phân bố ở hai vùng sau: tây bắc Băi Bang
(ở độ sâu 18-25 m nước), tây bắc vũng
Kim Liên (ở độ sâu 12-14 m nước). Ngoài ra, nó c̣n
h́nh thành một số điểm dị thường phân bố
các vùng sau: phía nam cửa Khẻm (19-22
m nước), vụng Kim Liên (8-9 m nước), xí nghiệp
đóng tàu khu vực phía trong và ngoài cảng Đà Nẵng.
Dựa vào Bảng 3, ta thấy Cu có tương quan âm với
các nguyên tố Zn, CO32- và tương quan
trung b́nh đến yếu với các nguyên tố khác (Bảng
3).
e. Nguyên tố kẽm (Zn):
Hàm lượng
Zn dao động trong khoảng 3,9-18 ppm,
trung b́nh 6,7 ppm, thấp hơn so với trầm tích biển
nông thế giới (20 ppm), Td = 0,34 (Bảng 2). Hệ số biến phân V = 41,16% cho thấy Zn phân bố tương đối
đồng đều trong trầm tích. Zn tạo thành 3 dị
thường với hàm lượng 11-18 ppm phân bố chủ
yếu ở các vùng: biển Băi Bang (ở độ sâu
16-20 m nước), ven bờ biển phường Nại
Hiên Đông (cảng Đà Nẵng) (ở độ sâu 0-20
m nước), biển phường Tam Thuận (ở
độ sâu 4-7 m nước). Ngoài ra, c̣n một
số điểm dị thường Zn phân bố rải
rác trong vùng ven biển khu nhà máy X.50 (phường Thọ
Quang), tây nam cửa Khẻm, vùng ven biển phường
Minh Ḥa.
Zn
có tương quan yếu hoặc không có tương quan với
các nguyên tố khác (Bảng 3).
f. Nguyên tố ch́ (Pb):
Hàm lượng
Pb dao động trong khoảng 3-40 ppm, trung b́nh 15 ppm. So với
hàm lượng trung b́nh trong trầm tích biển nông thế
giới (20 ppm), hàm lượng này thấp hơn, hệ số
Td = 0,75 (Bảng 2). Ch́ phân bố
tương đối đồng đều trong trầm
tích (V = 29,9%), tạo thành 2 dị thường
với mức hàm lượng 21,3-24 ppm. Dị thường
phân bố ở các vùng sau: băi Bang (ở độ sâu 19-25 m
nước), đông bắc Xí nghiệp 378 (ở độ
sâu 0-12 m nước). Ngoài ra, c̣n gặp một số điểm
hàm lượng Pb ở các vùng biển sau: ven bờ biển
phường Tam Thuận, đông nam vũng Kim Liên, tây bắc
cảng Tiên Sa, tây bắc Băi Bang.
Pb có tương quan với Cu, SO42-,
PO43- (R = 0,42-0,5), với
các nguyên tố khác nó có tương quan yếu hoặc không
có tương quan (Bảng 3).
g. Nguyên tố thuỷ ngân (Hg):
Hàm lượng
trung b́nh của thuỷ ngân trong trầm tích là 0,09 ppm với hệ số Td = 3. Hàm lượng
Hg dao động trong khoảng 0,03-1,2
ppm. Thuỷ ngân phân bố rất không đồng đều
trong trầm tích (V = 148,36%) (Bảng 2), chỉ
tạo thành các điểm dị thường với mức
hàm lượng 0,2-1,2 ppm, phân bố xung
quanh vùng Băi Bang với độ sâu 16-20 m nước.
4.
Ô nhiễm và nguy cơ ô nhiễm môi trường trong
trầm tích
Một khó khăn khi phải đánh giá chất
lượng môi trường trầm tích hiện nay là ở Việt Nam vẫn chưa có tiêu chuẩn chất
lượng môi trường trầm tích. V́ vậy,
để đánh giá chất lượng môi trường
trầm tích của khu vực, trong phạm vi báo cáo này chúng
tôi đă sử dụng tiêu chuẩn môi trường trầm
tích của Canada (Bảng 4), đồng thời có sự đối chiếu với
hàm lượng tương ứng của chúng trong trầm
tích biển nông thế giới. Tiêu chuẩn môi trường
trầm tích của Canada là tiêu chuẩn vẫn thường
được sử dụng trong đánh giá chất lượng
môi trường trầm tích của Việt Nam và vẫn
được Cục
Địa chất và Khoáng sản Việt Nam sử dụng trong các công tŕnh điều tra của ḿnh [1,
4].
Các số liệu phân tích cho thấy trầm tích tầng mặt
vùng biển vịnh Đà Nẵng đă bị ô nhiễm kim loại nặng bởi nguyên tố As.
Bảng 4. Hàm
lượng trung b́nh các kim loại nặng trong trầm tích
biển nông thế giới và tiêu chuẩn ô nhiễm môi
trường trầm tích của Canada (ppm)
|
Mức ô nhiễm |
Tiêu chuẩn |
Cu |
Pb |
Zn |
Cd |
Sb |
As |
Hg |
|
TBTG |
|
40 |
20 |
20 |
|
1,4 |
1 |
0,03 |
|
Có
nguy cơ |
>3* TBTG |
120 |
60 |
60 |
|
4,2 |
3 |
0,09 |
|
Yếu |
>Tel |
18,7 |
32 |
124 |
0,676 |
|
7,24 |
0,13 |
|
Trung
b́nh |
>1,5*Tel |
28,1 |
48 |
186 |
1,014 |
|
10,86 |
0,195 |
|
Mạnh |
>2*Tel |
37,4 |
64 |
248 |
1,352 |
|
14,48 |
0,26 |
|
Rất
mạnh |
>3*Tel |
56,1 |
96 |
372 |
2,028 |
|
21,72 |
0,39 |
|
Mức
gây ảnh hưởng |
>Tel |
108 |
112 |
271 |
4,210 |
|
41,6 |
0,696 |
a. Nguy
cơ ô nhiễm As: Nguy cơ ô nhiễm arsen xảy ra
trên toàn bộ vùng nghiên cứu với 51/58 mẫu có hàm
lượng 0,32-0,63 ppm. As trong vùng nghiên cứu
tạo thành 1 dị thường As với mức hàm lượng 6,2-6,3 ppm và phân bố chủ yếu
ở vùng ven biển đồn biên pḥng Hải Vân (ở
độ sâu 7-10 m nước). Các dị thường As phân bố ở các vùng thường là
nơi diễn ra các hoạt động nhân sinh mạnh mẽ.
Chúng liên quan với các chất thải của công nghiệp
khai khoáng, hoá chất, thuốc bảo vệ thực vật,
thuốc trừ sâu, diệt cỏ, diệt nấm... As c̣n
được sinh ra trong quá tŕnh phong hoá các đá và quặng,
hoà tan vào nước mặt, nước dưới đất
và đi ra biển. Khoáng vật thứ sinh tập trung trong
vỏ phong hoá như scorodit (FeAsO4.2H2O),
arsenat của Pb (minnetesit), của nickel (annabergit)… Sự có mặt
của H2SO4 thúc đẩy sự phân tán của
arsen, c̣n Pb, Ni, Co và keo hydroxyt Fe+3 ḱm hăm quá tŕnh di chuyển
của arsen, v́ nó tạo với As một hợp chất
khó tan. Qua các kết quả phân tích mẫu trong các đề
án chúng tôi áp dụng cho bài báo này, chúng tôi thấy trầm
tích giàu vật chất hữu cơ cũng có khả
năng hấp thụ và tích luỹ As; các kết quả
phân tích mẫu đều cho thấy arsen thường tập
trung cao trong mùn của đất đen.
Nh́n
chung, trong trầm tích vùng nghiên cứu có sự tập trung
của As. Nguy cơ ô nhiễm As xảy ra trên diện rộng,
nhưng tập trung chủ yếu ở các cảng, xí nghiệp
đóng tàu và ở các vùng cửa sông. Hiện tại, chúng
ta cũng chưa có đủ cơ sở để khẳng
định nguồn gốc của sự ô nhiễm này,
nhưng cũng có thể dự đoán là trong đó có
đóng góp một phần không nhỏ của các hoạt
động nhân sinh tại đây: lấn biển xây dựng
các công tŕnh, hoạt động của tàu bè trong vịnh,
rác thải và nước thải sinh hoạt, việc sử
dụng hoá chất bảo vệ thực vật và thuốc
diệt chuột trong nông nghiêp, sử dụng hoá chất
để trị bệnh cho tôm, cá, … Tuy quá tŕnh tích luỹ
độc tố này từ môi trường trầm tích diễn
ra chậm hơn so với môi trường nước vào
cơ thể con người, nhưng cũng là một thực
trạng rất đáng lo ngại.
b. Ô nhiễm
Hg:
Các kết quả nghiên cứu năm 1992 của đề
án: “Điều tra địa chất và t́m kiếm
khoáng sản rắn biển nông ven bờ Việt Nam (0 -30
m nước) tỷ lệ 1/500.000” cho thấy: tại khu vực phía TB và
TN băi Bang, ở độ sâu 16-20 m nước,
đă có biểu hiện ô nhiễm Hg ở mức trung b́nh
(hàm lượng Hg ở đây đạt giá trị 0,2
ppm) vượt giới hạn cho phép tiêu chuẩn ô nhiễm
môi trường trầm tích của Canada (0,195 ppm) (Bảng
5). Cũng tại vùng biển Băi Bang ở độ sâu >20 m nước
đă có biểu hiện ô nhiễm Hg ở mức gây ảnh
hưởng (hàm lượng Hg ở đây đạt giá
trị 1,2 ppm), vượt giới hạn cho phép tiêu chuẩn ô nhiễm
môi trường trầm tích của Canada đối với
Hg (0,69 ppm).
Theo kết quả nghiên cứu của đề
án [1] ở vịnh Đà Nẵng trên 160 mẫu,
chúng tôi thấy tất cả các mẫu Hg
đều có hàm lượng dao động từ 0,03 đến 0,08 ppm và đều thấp hơn tiêu chuẩn ô nhiễm môi
trường trầm tích của Canada đối với
nguyên tố Hg.
c. Ô nhiễm
Pb:
Theo kết quả nghiên cứu của đề án [4], ta thấy trong vùng nghiên cứu có biểu hiện ô nhiễm
Pb với mức độ yếu ở vùng TN
Băi Bang (ở độ sâu 16-17 m nước) (Bảng
6). Tại đây, Pb đạt hàm lượng 40 ppm,
vượt giới hạn cho phép tiêu chuẩn ô nhiễm
môi trường trầm tích của Canada đối với
Pb (32 ppm).
Bảng 5. Nguy cơ ô nhiễm Hg trầm
tích biển [4]
|
TT |
Vùng |
Trạm khảo
sát |
Hàm lượng (ppm) |
Mức độ |
|
1 |
Băi
Bang (>20 m nước) |
T.92-342a |
12 |
Gây ảnh hưởng |
|
2 |
TB
băi Bang (>20 m nước) |
T.92-349 |
0,2 |
Ô nhiễm TB |
|
3 |
TN
băi Bang (16-17 m nước) |
T.92-350 |
0,2 |
Ô nhiễm TB |
Bảng
6. Nguy cơ ô nhiễm Pb trầm
tích biển [4]
|
TT |
Vùng |
Trạm khảo
sát |
Hàm lượng (ppm) |
Mức độ |
|
1 |
Ở độ sâu 16 -17 m nước
vùng TN băi Bang |
T.92-350 |
40 |
Ô nhiễm yếu |
Theo kết quả nghiên cứu của đề
án [1] trên 160 mẫu, chúng tôi thấy tất
cả các mẫu Pb đều có hàm lượng dao động từ 0,2-0,66 ppm và đều thấp hơn tiêu chuẩn ô nhiễm môi
trường trầm tích của Canada đối với
nguyên tố Pb.
IV. KẾT
LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
1. Vùng
nghiên cứu có các đặc điểm địa hoá môi
trường tiêu biểu cho vùng vũng vịnh với
hướng đường bờ biển phức tạp,
chịu nhiều tác động của các hoạt động
nhân sinh (đánh bắt, nuôi trồng thuỷ sản, chế
biển hải sản), công nghiệp và các hoạt động
giao thông đường thủy. Căn cứ vào đặc
điểm Eh, pH trong trầm tích biển hình
thành hai kiểu môi trường thành tạo trầm
tích: môi trường trung tính - oxy hóa mạnh (6,5<pH< 7,5; Eh>150 mV) và môi trường
kiềm yếu - oxy hóa mạnh (7,5<pH<8,5; Eh>150 mV), chiếm
phần lớn diện tích vùng nghiên cứu.
2.
Các nguyên tố Mn, Cu, Cu, Pb, Zn, Sb có hàm
lượng thấp hơn hàm lượng trung
bình của chúng trong nước biển
thế giới (<1), nên chúng ít có khả
năng gây ô nhiễm và có nguy cơ ô nhiễm. Nguy
cơ ô nhiễm As, Hg và Pb chỉ phát hiện
được ở những năm 1992 [4].
3. Vùng biển vịnh
Đà Nẵng có nhiều hệ thống thoát nước ra
sông, suối. Phần lớn các hệ
thống này chảy qua các khu công nghiệp và khu dân cư. Chất lượng
môi trường luôn bị đe dọa bởi các chất
gây ô nhiễm mang ra từ đất liền bởi chất
thải của các nhà máy, xí nghiệp, các khu dân cư ven biển.
Bên cạnh đó, vùng c̣n là nơi chịu ảnh hưởng
mạnh của các hoạt động tàu thuyền, cảng
biển, du lịch, nuôi trồng thủy sản,…
4. Các giải pháp hạn chế ô
nhiễm môi trường trầm tích: Như chúng ta đã biết, vùng biển
vịnh Đà Nẵng phải hứng chịu một
khối lượng chất thải lớn từ hoạt
động công nghiệp, nông nghiệp, giao thông vận tải
đường thuỷ và dân sinh.
- Đối với chất thải
công nghiệp: cần sử dụng công nghệ cao ít phế
liệu. Khi xây dựng các công tŕnh
mới, cần có biện pháp xử lư
nước thải, khí thải, đảm bảo mức độ sạch theo tiêu chuẩn hiện đại trước
khi được thải ra môi trường. Cần thu gom
và xử lư nước thải và chất thải rắn.
- Trong sản xuất nông nghiệp:
sử dụng các loại thuốc tăng
trưởng, thuốc bảo vệ thực
vật đă được
Nhà nước cho phép, sử dụng
đúng liều lượng các chất bảo vệ thực
vật, tăng cường sử dụng phân bón hữu
cơ.
- Đối với chất thải
sinh hoạt: cần tuyên truyền vận động nhân
dân có ư thức bảo vệ môi trường. Không xả
rác thải trực tiếp xuống sông, biển. Thực
hiện tốt xử lư rác thải trong các bệnh viện.
Biện pháp khắc phục:
1. Tăng cường hợp tác nghiên cứu
bảo vệ môi trường với các tổ chức khoa
học trong nước và quốc tế. Các dự án này
đă giúp tăng cường năng lực trong lĩnh vực
quản lư biển và vùng bờ. Thiết lập hệ thống
quan trắc kiểm soát chất lượng môi trường
dọc theo sông, cảng biển và ven biển để có
thể cảnh báo và chuẩn bị hồ sơ khuyến
cáo các cấp có thẩm quyền can thiệp khi có biểu
hiện ô nhiễm hay có sự cố môi trường.
2. Nghiêm cấm việc thải nước
thải, chất thải công nghiệp và sinh hoạt xuống
sông, xuống biển khi chưa qua xử lư.
3. Nghiêm cấm các tàu, thuyền
hết hạn sử dụng hoạt động trong
khu vực.
4. Giảm thiểu các cây xăng di
động trên biển và các hình thức
buôn bán xăng dầu quy mô nhỏ trên biển.
Để bảo vệ môi trường
cần xóa đói giảm nghèo, nâng cao dân trí giáo dục, ư thức
bảo vệ môi trường, chống
lại các thói quen xả các chất thải trong sinh hoạt xuống sông biển. Cùng
với sự phát triển kinh tế theo cơ chế thị
trường thường tăng thêm
sự cách biệt giữa giàu và nghèo, giữa thành thị
và nông thôn, sự nghèo đói, kém hiểu biết là một nguyên nhân
quan trọng làm tăng mức độ ô nhiễm môi
trường. Để khắc phục vấn đề
này cần tạo công ăn việc làm; Nhà nước cần
hỗ trợ xây dựng các khu định cư
tương đối ổn định trong mùa lũ, với
các điều kiện tối thiểu về vệ sinh, như nước, hố xí tự hoại,
cống thoát, đồng thời phải nâng cấp
cơ sở hạ tầng: đường giao thông, hệ
thống cấp thoát nước… trong thành phố
cũng như vùng ngoại thành. Tăng cường
kêu gọi đầu tư xây dựng và phát triển các khu
công nghiệp, nhằm thúc đẩy phát triển
kinh tế của khu vực.
VĂN
LIỆU
1. Đào Mạnh Tiến (Chủ biên), 2008. Điều
tra, đánh giá tài nguyên, môi trường vùng vịnh Đà Nẵng. Lưu trữ ĐC, Hà Nội.
2. Hang H.T.M., Vinh B.T., 2001. Environmental
sensivity categories for the shoreline from Mui Ne to the mouth of
3. Mai Trọng Nhuận, 2001. Địa hóa môi
trường. Nxb ĐHQG Hà Nội,
Hà Nội.
4. Nguyễn Biểu (Chủ biên), 2004. Điều tra địa chất,
t́m kiếm khoáng sản rắn biển ven bờ (0-30 m
nước) Việt
5. NOAA, 1999. Community vulnerability assessment tool
6. Toms G. et
al., 1996.